HinhChungThanksgiving2017Lúc 5 giờ 30 chiều ngày thứ Ba 2 tháng Hai, Đức Thánh Cha Phanxicô đã chủ sự thánh lễ Đức Mẹ Dâng Chúa vào Đền Thánh, kỷ niệm Ngày Đời Sống Thánh Hiến Thế Giới lần thứ 25 bên trong Đền Thờ Thánh Phêrô.

Đây là ngày kỷ niệm đã được Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thiết định vào năm 1997.

Trong thông điệp Ngày Đời Sống Thánh Hiến Thế Giới lần thứ nhất, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II giải thích rằng ngày này có ba mục đích:

Trước hết, đó là cơ hội để chúng ta ngợi khen Chúa một cách trang trọng và cám tạ Ngài vì hồng ân lớn lao của cuộc sống thánh hiến đã và đang làm phong phú cũng như linh hoạt các cộng đoàn Kitô với vô số đặc sủng và các hoa trái của rất nhiều cuộc sống hoàn toàn được tận hiến cho sứ vụ rao giảng Tin Mừng.

Thứ hai, ngày này nhằm mục đích quảng bá các kiến thức về đời sống tận hiến và lòng yêu mến cuộc sống thánh hiến trong toàn thể dân Chúa.

Lý do thứ ba liên quan trực tiếp đến những người tận hiến. Các vị được mời gọi cử hành cùng nhau một cách long trọng những điều kỳ diệu mà Chúa đã thực hiện trong họ, khám phá ra những tia sáng từ tôn nhan Thiên Chúa đang dõi chiếu đường đời của họ và có một ý thức sinh động hơn về sứ mệnh không thể thay thế của họ trong Giáo Hội và trên thế giới. Trong một thế giới thường bị kích động và mất tập trung, những người tận hiến cử hành Ngày Đời Sống Thánh Hiến để trở lại nguồn mạch ơn gọi của họ, và để tái khẳng định cam kết hiến dâng cuộc sống cho Chúa.

Theo Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong năm Phụng Vụ, không có ngày lễ nào thích hợp hơn để cử hành Ngày Đời Sống Thánh Hiến Thế Giới cho bằng ngày Lễ Đức Mẹ Dâng Chúa Giêsu vào Đền Thánh. Ngài nhận xét rằng “Việc dâng Chúa Giêsu vào Đền Thánh là một biểu tượng hùng hồn cho sự hiến dâng trọn vẹn cuộc sống của tất cả những ai được kêu gọi để trình bày trong Giáo Hội và trước thế giới các nét đặc trưng của Chúa Giêsu – đó là trong sạch, khó nghèo và vâng phục.”

Đồng tế với Đức Thánh Cha trong thánh lễ, có Đức Hồng Y João Aviz de Braz, người Ba Tây, Tổng Trưởng Bộ các Dòng Tu, Đức Tổng Giám Mục Tổng thư ký José Rodríguez Carballo, các chức sắc của Bộ này, một số các cha Bề trên Tổng quyền, và các linh mục dòng, cùng sự hiện diện của một số nhỏ các tu sĩ nam nữ và giáo dân vì hoàn cảnh đại dịch coronavirus.

Buổi lễ bắt đầu với nghi thức làm phép nến và một cuộc rước tiến lên bàn thờ.

Trong bài giảng, Đức Thánh Cha nói:

Thánh Luca nói với chúng ta rằng ông Simeon “đang trông đợi niềm an ủi của dân Israel” (Lc 2,25). Lên Đền thờ khi Đức Maria và Thánh Giuse đang đưa Chúa Giêsu đến đó, ông đã ôm Đấng Mêsia vào lòng. Người đã nhận ra nơi Hài Nhi đó ánh sáng chiếu đến dân ngoại là một người đàn ông lớn tuổi đã kiên nhẫn chờ đợi việc Chúa thực hiện những lời hứa của Ngài.

Sự kiên nhẫn của Simeon. Chúng ta hãy xem xét kỹ hơn sự kiên nhẫn của vị bô lão đó. Cả đời ông, ông đã chờ đợi, thực thi sự kiên nhẫn của con tim. Trong lời cầu nguyện của mình, ông Simeon đã học được rằng Thiên Chúa không đến trong những sự kiện bất thường, nhưng hoạt động giữa sự đơn điệu nhàm chán trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, trong nhịp điệu thường xuyên buồn tẻ của các hoạt động của chúng ta, trong những điều nhỏ nhặt mà chúng ta đạt được với sự bền đỗ và khiêm tốn, trong nỗ lực của chúng ta để làm theo thánh ý Ngài. Khi kiên trì nhẫn nại như thế, ông Simeon đã không mệt mỏi theo thời gian. Giờ đây ông đã là một ông già, nhưng ngọn lửa nhiệt tình vẫn cháy sáng trong tim ông. Trong cuộc đời dài đằng đẵng của mình, chắc chắn đã có lúc ông bị tổn thương, bị thất vọng, nhưng ông không mất hy vọng. Ông Simeon đã tin tưởng vào lời hứa, và không để bản thân bị tiêu hao bởi sự hối tiếc về những khoảng thời gian đã qua hoặc cảm giác thất vọng có thể đến khi chúng ta đến gần buổi hoàng hôn của cuộc đời mình. Niềm hy vọng và sự trông đợi của ông được thể hiện qua sự kiên nhẫn hàng ngày của một người đàn ông, bất chấp mọi thứ, vẫn luôn tỉnh thức, cho đến khi “chính mắt con đã nhìn thấy ơn cứu độ” mà Chúa đã hứa (x. Lc 2,30).

Tôi tự hỏi mình: Simeon học được sự kiên nhẫn như vậy ở đâu? Tôi nghĩ rằng nó được sinh ra từ sự cầu nguyện và lịch sử dân tộc của ông, vốn luôn thấy nơi Chúa “một Thiên Chúa nhân hậu và nhân từ, chậm bất bình và dư dật tình yêu kiên vững và trung tín” (Xh 34: 6). Ông nhận ra Chúa Cha, Đấng, ngay cả khi đối mặt với sự từ khước và bất trung, không bao giờ từ bỏ, nhưng vẫn “kiên nhẫn hết năm này sang năm khác” (xem Nkm 9:30), để không ngừng trao ra khả năng hoán cải.

Vì thế, sự kiên nhẫn của Simeon là tấm gương phản chiếu sự kiên nhẫn của chính Thiên Chúa. Từ lời cầu nguyện và lịch sử dân tộc mình, Simeon đã học được rằng Thiên Chúa thực sự kiên nhẫn. Thánh Phaolô nói với chúng ta rằng với sự kiên nhẫn đó, Ngài “dẫn chúng ta đến sự ăn năn” (Rm 2: 4). Tôi thích nghĩ đến Romano Guardini, người đã từng nhận xét rằng kiên nhẫn là cách Chúa đáp lại sự yếu đuối của chúng ta và cho chúng ta thời gian cần thiết để hoán cải (xem Glaubenserkenntnis, Würzburg, 1949, 28). Hơn ai hết, Đấng Mêsia, là Chúa Giêsu, là Đấng mà ông Simeon ôm trong tay, cho chúng ta thấy sự kiên nhẫn của Thiên Chúa, là Cha nhân từ, Đấng luôn kêu gọi chúng ta, cho đến giờ cuối cùng của chúng ta. Thiên Chúa, Đấng không đòi hỏi sự hoàn hảo, nhưng đòi chúng ta phải có lòng nhiệt thành, là Đấng mở ra những khả năng mới khi tất cả dường như mất. Ngài là Đấng muốn mở ra một đột phá trong trái tim chai cứng của chúng ta. Ngài là Đấng để cho hạt giống tốt mọc lên mà không cần nhổ hết cỏ lùng. Đây là lý do cho hy vọng của chúng ta: đó là Thiên Chúa không bao giờ mệt mỏi khi chờ đợi chúng ta. Khi chúng ta quay đi, Ngài đến tìm chúng ta; khi chúng ta ngã quỵ, Ngài nâng chúng ta lên; khi chúng ta quay trở lại với Ngài sau khi lầm đường lạc lối, Ngài chờ đợi chúng ta với vòng tay rộng mở. Tình yêu của Ngài không áp lực chúng ta theo não trạng tính toán của con người, nhưng hào phóng ban cho chúng ta can đảm để bắt đầu lại. Điều này dạy cho chúng ta tính kiên cường, và lòng can đảm để luôn có thể bắt đầu lại mỗi ngày. Hãy luôn luôn bắt đầu lại sau khi chúng ta vấp ngã vì Chúa luôn kiên nhẫn.

Chúng ta hãy nhìn vào sự kiên nhẫn của chính mình. Chúng ta hãy nhìn vào sự kiên nhẫn của Thiên Chúa và sự kiên nhẫn của ông Simeon khi chúng ta xem xét đời sống thánh hiến của chính mình. Chúng ta có thể tự hỏi sự kiên nhẫn thực sự liên quan đến điều gì. Chắc chắn nó không chỉ đơn giản là chịu đựng khó khăn hay thể hiện sự kiên định khi đối mặt với gian truân. Kiên nhẫn không phải là dấu hiệu của sự yếu đuối, mà là sức mạnh của tinh thần giúp chúng ta “mang gánh nặng”, chịu đựng, gánh vác sức nặng của các vấn đề cá nhân và cộng đồng, chấp nhận những người có ý kiến khác với mình, kiên trì hướng thiện khi tất cả dường như đã mất, và để tiếp tục tiến lên ngay cả khi bị đè nặng bởi mệt mỏi và bơ phờ.

Hãy để tôi chỉ ra ba “khung cảnh” mà sự kiên nhẫn có thể trở nên cụ thể.

Đầu tiên là cuộc sống cá nhân của chúng ta. Đã có lúc chúng ta đáp lại lời mời gọi của Chúa, và với lòng nhiệt thành và quảng đại hiến dâng mạng sống của mình cho Người. Trên đường đi, cùng với những lời an ủi, chúng ta đã có những chia sẻ về những thất vọng và chán nản. Đôi khi, công việc khó khăn của chúng ta không đạt được kết quả như mong muốn, những hạt giống chúng ta gieo dường như không kết trái đủ, lòng hăng hái cầu nguyện của chúng ta tàn lụi và chúng ta không phải lúc nào cũng tránh được sự khô cằn tâm linh. Trong cuộc sống của chúng ta với tư cách là những người nam nữ được thánh hiến, có thể xảy ra rằng niềm hy vọng từ từ mất đi do những kỳ vọng không được đáp ứng. Chúng ta phải kiên nhẫn với chính mình và chờ đợi trong hy vọng thời gian và địa điểm của chính Thiên Chúa, vì Ngài luôn trung tín với những lời hứa. Đây là viên đá tảng: Ngài trung tín với những lời hứa của mình. Ghi nhớ điều này có thể giúp chúng ta tìm lại các bước của mình và hồi sinh những ước mơ, thay vì phó mặc cho nỗi buồn và sự chán nản nội tâm. Thưa anh chị em, trong chúng ta, những người nam nữ thánh hiến, nỗi buồn nội tâm là một con sâu, một con sâu ăn thịt chúng ta từ bên trong. Hãy trốn khỏi nỗi buồn nội tâm!

Một khung cảnh thứ hai mà sự kiên nhẫn có thể trở thành cụ thể là đời sống cộng đồng. Tất cả chúng ta đều biết rằng các mối quan hệ của con người không phải lúc nào cũng êm đềm, đặc biệt là khi chúng liên quan đến việc chia sẻ một dự án cuộc sống hoặc một hoạt động tông đồ. Có những lúc xung đột nảy sinh mà không thể lường trước được giải pháp tức thời, và cũng chẳng có những đánh giá nhanh chóng. Thời gian là cần thiết để lùi lại, để gìn giữ hòa bình và chờ đợi một thời điểm tốt hơn ngõ hầu có thể giải quyết các tình huống trong đức ái và sự thật. Chúng ta đừng để cho mình bị xao xuyến trước những cám dỗ. Trong Sách Nhật Tụng, dành cho giờ Kinh Sách ngày mai, có một đoạn văn hay về sự phân định tâm linh của Diodochus thành Photice. Ông nói: “Một vùng biển yên tĩnh cho phép người đánh cá nhìn thấu tận đáy. Không con cá nào có thể trốn ở đó và thoát khỏi tầm mắt của anh ta. Tuy nhiên, vùng biển có bão sẽ trở nên âm u khi bị gió thổi mạnh”. Chúng ta sẽ không bao giờ có thể phân định rõ ràng, để nhìn thấy sự thật, nếu lòng chúng ta bị kích động và thiếu kiên nhẫn. Không bao giờ. Các cộng đồng của chúng ta cần loại kiên nhẫn với nhau này: là khả năng nâng đỡ, nghĩa là, tự gánh trên vai mình cuộc sống của một trong những anh chị em của chúng ta, bao gồm cả những điểm yếu và thất bại của người ấy, tất cả những điều đó. Chúng ta hãy nhớ rằng Chúa không kêu gọi chúng ta trở thành nghệ sĩ độc tấu - chúng ta biết trong Giáo hội có rất nhiều người - chúng ta không được kêu gọi trở thành nghệ sĩ độc tấu mà là một phần của dàn hợp xướng mà đôi khi có thể bỏ sót một hoặc hai nốt nhạc, nhưng phải luôn cố gắng hát đồng thanh với nhau.

Cuối cùng, khung cảnh thứ ba là mối quan hệ của chúng ta với thế giới. Ông Simeon và bà Anna ấp ủ hy vọng đã được các tiên tri tiên báo, mặc dù nó chậm được ứng nghiệm và phát triển một cách âm thầm giữa sự vô đạo và những tàn phá của thế giới chúng ta. Họ không phàn nàn những điều này sai trái ra sao, nhưng kiên nhẫn tìm kiếm ánh sáng chiếu trong bóng tối của lịch sử. Để tìm kiếm ánh sáng tỏa sáng trong bóng tối của lịch sử; để tìm kiếm ánh sáng chiếu trong bóng tối của chính cộng đồng của chúng ta, chúng ta cũng cần sự kiên nhẫn đó, để không rơi vào cái bẫy của sự phàn nàn ta thán. Một số người là bậc thầy về phàn nàn, tiến sĩ của việc ta thán, họ rất giỏi trong việc phàn nàn! Đừng, anh chị em, phàn nàn giam hãm chúng ta: quá thường chúng ta nghe những điều như “thế giới không còn lắng nghe chúng ta nữa” hoặc “chúng ta không còn ơn gọi nữa, vì vậy chúng ta phải đóng cửa nhà dòng”, hoặc “đây không phải là thời điểm dễ dàng”, “à, đừng nói với tôi!”. Và thế là cuộc song ca phàn nàn bắt đầu. Có thể xảy ra rằng cho dù Thiên Chúa kiên nhẫn vun xới mảnh đất lịch sử và trái tim của chúng ta, chúng ta vẫn tỏ ra thiếu kiên nhẫn và muốn đánh giá mọi thứ ngay lập tức: bây giờ hoặc không bao giờ, bây giờ, bây giờ, bây giờ. Bằng cách này, chúng ta đánh mất đức tính “nhỏ bé” nhưng cao đẹp nhất là hy vọng. Tôi đã thấy nhiều người nam nữ thánh hiến mất hy vọng, chỉ đơn giản là do thiếu kiên nhẫn.

Sự kiên nhẫn giúp chúng ta có lòng thương xót trong cách chúng ta nhìn nhận bản thân, cộng đồng và thế giới của chúng ta. Trong cuộc sống của chính mình, chúng ta có đón nhận sự kiên nhẫn của Chúa Thánh Thần không? Trong cộng đồng của mình, chúng ta có chịu đựng lẫn nhau và làm rạng rỡ niềm vui của đời sống huynh đệ không? Trên thế giới, chúng ta có kiên nhẫn cung cấp sự phục vụ của mình hay đưa ra những phán xét khắc nghiệt? Đây là những thách đố thực sự đối với đời sống thánh hiến của chúng ta: chúng ta không thể cứ mãi mắc kẹt trong hoài niệm về quá khứ hoặc đơn giản là cứ lặp đi lặp lại những điều cũ kỹ hay những lời phàn nàn hàng ngày. Chúng ta cần kiên nhẫn và can đảm để tiếp tục thăng tiến, khám phá những con đường mới và đáp lại sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần. Và làm như vậy với sự khiêm tốn và giản dị, không cần phải tuyên truyền hay quảng cáo rầm rộ.

Chúng ta hãy chiêm ngưỡng sự kiên nhẫn của Thiên Chúa và cầu xin sự kiên nhẫn đáng tin cậy của ông Simeon và bà Anna. Bằng cách này, xin cho đôi mắt của chúng ta cũng có thể nhìn thấy ánh sáng của ơn cứu rỗi và mang ánh sáng đó đến với toàn thế giới, giống như hai người cao niên này đã làm trong bài tụng ca của họ.

bluerose1Bản dịch Việt Ngữ của Vũ Văn An
Sứ điệp Ngày Hoà bình Thế giới năm 2021 của Đức Phanxicô đã được Phòng Báo chí của Tòa thánh phát đi ngày 17 tháng 12 vừa qua. Sau đây là nội dung thông điệp:

Văn hóa quan tâm, đường dẫn tới hòa bình

1. Vào buổi bình minh của năm mới, tôi xin gửi lời chào thân ái tới các Nguyên thủ quốc gia và Chính phủ, các nhà lãnh đạo các Tổ chức quốc tế, các vị lãnh đạo tinh thần và tín hữu các tôn giáo khác nhau và các người thiện chí nam nữ. Với mọi người, tôi xin gửi lời chúc tốt đẹp nhất của tôi là năm tới sẽ giúp nhân loại tiến hơn nữa trên con đường huynh đệ, công lý và hòa bình giữa các cá nhân, cộng đồng, dân tộc và quốc gia.

Năm 2020 được đánh dấu bằng cuộc khủng hoảng sức khỏe Covid-19 hết sức lớn lao, một cuộc khủng hoảng đã trở thành một hiện tượng hoàn cầu xuyên biên giới, làm trầm trọng thêm các cuộc khủng hoảng vốn có liên quan sâu sắc với nhau như khí hậu, lương thực, kinh tế và di dân, và gây ra nhiều đau khổ và gian khó. Tôi đặc biệt nghĩ đến tất cả những người mất các thành viên trong gia đình hoặc những người thân yêu, và tất cả những người bị mất việc làm. Tôi cũng nghĩ đến các bác sĩ và y tá, dược sĩ, nhà nghiên cứu, tình nguyện viên, tuyên úy và nhân viên các bệnh viện và trung tâm chăm sóc sức khỏe. Họ đã và đang tiếp tục thực hiện các hy sinh to lớn để hiện diện với người bệnh, giảm bớt đau khổ và cứu sống họ; thực vậy, nhiều người trong số họ đã chết trong diễn trình này. Để tỏ lòng kính trọng đối với họ, tôi xin lặp lại lời kêu gọi các nhà lãnh đạo chính trị và các khu vực tư không tiếc một cố gắng nào để bảo đảm quyền được tiêm chủng vắc xin Covid-19 và các kỹ thuật chủ yếu cần thiết cho việc chăm sóc người bệnh, người nghèo và những người dễ bị tổn thương nhất [1].

Đáng buồn khi phải nói rằng, bên cạnh tất cả những chứng từ yêu thương và liên đới này, chúng ta cũng đã chứng kiến sự gia tăng trong nhiều hình thức khác nhau của chủ nghĩa duy dân tộc, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và bài ngoại, và các cuộc chiến tranh và xung đột chỉ để lại chết chóc và hủy diệt đàng sau chúng.

Những sự kiện này và những sự kiện khác, vốn đánh dấu con đường của nhân loại trong năm qua, đã dạy chúng ta rằng việc quan tâm đến nhau và đến sáng thế quan trọng biết dường nào trong các cố gắng của chúng ta nhằm xây dựng một xã hội huynh đệ hơn. Đó là lý do tại sao tôi đã chọn làm tiêu đề của Thông điệp năm nay, Văn hóa Quan tâm như con đường dẫn đến hòa bình. Văn hóa quan tâm như một cách chống lại văn hóa dửng dưng, lãng phí và đối đầu rất thịnh hành thời ta.

2. Thiên Chúa Tạo Hóa, nguồn ơn gọi con người chúng ta chăm sóc

Nhiều truyền thống tôn giáo đã kể về nguồn gốc của con người và mối liên hệ của họ với Đấng Tạo Hóa, với thiên nhiên và với đồng loại nam nữ của họ. Trong Kinh thánh, Sách Sáng thế cho thấy ngay từ những trang đầu tiên tầm quan trọng của việc chăm sóc hoặc bảo vệ trong kế hoạch của Thiên Chúa dành cho nhân loại. Nó làm nổi bật mối liên hệ giữa con người ('adam) và trái đất (' adamah), và giữa chúng ta với tư cách là anh chị em. Theo trình thuật của Kinh thánh về sự sáng thế, Thiên Chúa giao khu vườn “trồng ở Êđen” (xem St 2: 8) cho Ađam chăm sóc, để “canh tác và gìn giữ” (St 2:15). Điều này hàm nghĩa phải làm cho trái đất trở nên có năng suất, đồng thời bảo vệ nó và duy trì khả năng hỗ trợ sự sống của nó [2]. Các động từ “canh tác” và “gìn giữ” mô tả mối liên hệ của Ađam với ngôi nhà vườn của ông, nhưng cả niềm tín thác mà Thiên Chúa đã đặt nơi ông bằng cách biến ông thành chủ nhân ông và người bảo vệ mọi tạo vật.

Sự ra đời của Cain và Abel bắt đầu lịch sử anh chị em, mà mối liên hệ của họ - ngay cả khi Cain hiểu sai – cũng được hiểu theo nghĩa bảo vệ hoặc “giữ gìn”. Sau khi giết em trai mình là Abel, Cain trả lời câu hỏi của Thiên Chúa bằng câu: "Tôi có phải là người canh giữ em tôi đâu?" (St 4: 9) [3]. Giống như tất cả chúng ta, Cain được gọi là “người canh giữ em trai mình". "Những câu chuyện cổ, đầy tính biểu tượng này, làm chứng cho niềm xác tín được chúng ta ngày nay chia sẻ, đó là: mọi sự được liên kết với nhau, và sự quan tâm thực sự tới cuộc sống của chúng ta và mối liên hệ của chúng ta với thiên nhiên là điều không thể tách rời khỏi tình huynh đệ, công lý và lòng trung thành với người khác” [ 4].

3 Thiên Chúa Tạo Hóa, kiểu mẫu của sự quan tâm

Sách Thánh trình bày Thiên Chúa không chỉ là Đấng Tạo Hóa, mà còn là Đấng quan tâm đến các tạo vật của Người, nhất là Ađam, Evà và con cái của họ. Mặc dù bị nguyền rủa vì tội đã phạm, Cain vẫn được Đấng Tạo Hóa ban cho dấu hiệu bảo vệ, để mạng sống hắn được dung thứ (xem St 4:15). Trong khi xác nhận phẩm giá bất khả xâm phạm của con người được tạo ra theo hình ảnh và họa ảnh của Thiên Chúa, đây cũng là dấu hiệu cho thấy kế hoạch của Thiên Chúa muốn bảo tồn sự hòa điệu nơi sáng thế của Người, vì “hòa bình và bạo lực không thể tồn tại với nhau” [5].

Việc quan tâm tới sáng thế, vốn nằm ở tâm điểm của việc định ra ngày Sabát, một việc, ngoài việc sắp xếp việc thờ phượng Thiên Chúa ra, còn nhằm mục đích khôi phục trật tự xã hội và quan tâm đến người nghèo (xem St 1: 1-3; Lv 25: 4). Việc cử hành Năm Thánh vào mọi năm sabát thứ bẩy cung cấp thời gian nghỉ ngơi cho đất đai, cho nô lệ và cho những người mắc nợ. Trong năm hồng ân đó, những người có nhu cầu lớn nhất được quan tâm và dành cho một cơ hội mới trong cuộc sống, để không còn người nghèo trong dân nữa (xem Đnl 15: 4).

Trong truyền thống tiên tri, cái hiểu trong Kinh thánh về công lý tìm được biểu thức cao nhất trong cách một cộng đồng đối xử với những thành viên yếu nhất của họ. Đặc biệt, Amốt (xem 2: 6-8; 8) và Isaia (xem 58), kiên quyết đòi hỏi công lý cho người nghèo, những người, trong tình trạng dễ bị tổn thương và bất lực của họ, đã kêu lên và được Thiên Chúa khứng nghe, Đấng luôn trông nom họ (xem Tv 34: 7; 113: 7-8).

4. Quan tâm trong thừa tác vụ của Chúa Giêsu

Cuộc đời và thừa tác vụ của Chúa Giêsu trình bầy với ta việc mặc khải tối cao tình yêu của Chúa Cha dành cho nhân loại (x. Ga 3:16). Trong hội đường ở Nadarét, Chúa Giêsu cho thấy Người được Chúa thánh hiến và “được sai đi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo khó, công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức” (Lc 4,18). Những hành động thiên sai này, vốn được liên kết với Năm Thánh, làm chứng hùng hồn cho sứ mệnh Người đã lãnh nhận từ Chúa Cha. Trong lòng thương xót của Người, Chúa Kitô đã đến gần những người đau yếu về thể xác và tinh thần, và chữa lành cho họ; Người đã ân xá tội nhân và ban cho họ sự sống mới. Chúa Giêsu là Mục tử nhân lành chăm sóc đoàn chiên của Người (x. Ga 10: 11-18; Edk 34: 1-31). Người là người Samaritanô nhân hậu, cúi xuống cứu giúp người bị thương, băng bó các vết thương của họ và chăm sóc họ (x. Lc 10:30-37).

Ở đỉnh cao của sứ mệnh, Chúa Giêsu đã đưa ra bằng chứng cuối cùng về sự chăm sóc của Người dành cho chúng ta bằng cách tự hiến mình trên thập giá để giải phóng chúng ta khỏi ách nô lệ của tội lỗi và sự chết. Bằng việc hiến tế sự sống của Người, Người đã mở ra cho chúng ta con đường tình yêu. Người nói với mỗi người chúng ta: “Hãy theo Ta; hãy đi và hãy làm như vậy” (x. Lc 10:37).

5. Văn hóa quan tâm trong đời sống những người theo Chúa Giêsu

Các việc thương xót về tinh thần và thể xác nằm ở tâm điểm đức bác ái như đã được Giáo hội sơ khai thực hành. Thế hệ Kitô hữu đầu tiên đã chia sẻ những gì họ có, để không ai trong số họ phải túng thiếu (xem Cv 4: 34-35). Họ cố gắng biến cộng đồng của họ thành một ngôi nhà biết nghinh đón, quan tâm đến mọi nhu cầu của con người và sẵn sàng chăm sóc những người cần nhất. Họ có thói quen tự ý dâng cúng để nuôi người nghèo, chôn cất người chết và chăm sóc trẻ mồ côi, người già và nạn nhân các thảm họa như đắm tàu. Vào thời sau đó, khi lòng quảng đại của các Kitô hữu đã mất đi sức sốt sắng ban đầu, một số Giáo phụ khẳng định rằng tài sản đã được Thiên Chúa dự liệu cho ích chung. Đối với Thánh Ambrôsiô, “thiên nhiên tuôn đổ mọi sự mọi người sử dụng chung... và do đó tạo ra quyền chung cho tất cả mọi người, nhưng lòng tham đã biến nó thành quyền chỉ dành cho một số ít người” [6]. Sau những cuộc bách hại trong những thế kỷ đầu tiên, Giáo hội đã sử dụng quyền tự do mới tìm thấy của mình để truyền cảm hứng cho xã hội và nền văn hóa của nó. “Nhu cầu của thời đại đòi hỏi những nỗ lực mới trong việc phục vụ bác ái Kitô giáo. Lịch sử ghi lại vô số thí dụ về những việc thương xót thực tiễn ... Việc làm của Giáo hội nơi những người nghèo phần lớn đã được tổ chức rất cao. Từ đó, đã nảy sinh nhiều cơ sở để cứu trợ mọi nhu cầu của con người: bệnh viện, nhà dành cho người nghèo, trại mồ côi, nhà giữ trẻ bị bỏ rơi, nơi trú ẩn cho du khách... ”[7].

6. Các nguyên tắc trong học thuyết xã hội của Giáo hội như căn bản cho nền văn hóa quan tâm

Nguồn gốc Tác vụ phục dịch (Diakonia) của Giáo hội, được phong phú hóa nhờ suy tư của các Giáo phụ và được chấn hưng qua nhiều thế kỷ nhờ lòng bác ái tích cực của nhiều nhân chứng sáng chói đối với đức tin, đã trở thành trái tim sống động trong học thuyết xã hội của Giáo hội. Học thuyết này được cung ứng cho tất cả những người có thiện chí như một gia bảo quý giá gồm các nguyên tắc, tiêu chuẩn và đề xuất có thể dùng như một “văn phạm” của việc quan tâm: cam kết cổ vũ phẩm giá của mỗi nhân vị, liên đới với người nghèo và người dễ bị tổn thương, theo đuổi ích chung và quan tâm đến việc bảo vệ sáng thế.

Quan tâm như việc cổ vũ phẩm giá và quyền lợi của mỗi người

“Chính khái niệm về con người, một khái niệm bắt nguồn và phát triển trong Kitô giáo, đã cổ vũ việc theo đuổi sự phát triển toàn diện con người. Con người luôn hàm nghĩa mối liên hệ, không phải chủ nghĩa cá nhân; nó khẳng định việc bao gồm, chứ không loại trừ, phẩm giá độc nhất và bất khả xâm phạm, chứ không bóc lột” [8]. Mỗi nhân vị là một mục đích trong chính họ, chứ không bao giờ chỉ là một phương tiện để được trân quí vì sự hữu ích của họ. Con người được tạo ra để sống với nhau trong gia đình, cộng đồng và xã hội, nơi mọi người đều bình đẳng về phẩm giá. Nhân quyền dẫn khởi từ phẩm giá này, cũng như các bổn phận của con người, như trách nhiệm nghinh đón và trợ giúp người nghèo, người bệnh tật, người bị loại trừ, mọi người “hàng xóm gần hay xa trong không gian và thời gian” của chúng ta (9).

Quan tâm đến lợi ích chung

Mọi khía cạnh của đời sống xã hội, chính trị và kinh tế đều đạt được mục đích trọn vẹn nhất khi được đặt vào việc phục vụ ích chung, hay nói cách khác “tổng số các điều kiện xã hội cho phép người ta, như các nhóm hay như các cá nhân, đạt được sự thành toàn của họ một cách trọn vẹn và dễ dàng hơn” [10]. Do đó, các kế hoạch và dự án của chúng ta phải luôn tính đến hiệu quả của chúng đối với toàn thể gia đình nhân loại, và xem xét các hậu quả của chúng đối với các thế hệ hiện tại và sắp tới. Đại dịch Covid-19 đã cho chúng ta thấy sự thật và đúng lúc của sự kiện này. Đứng trước đại dịch, “chúng ta nhận ra rằng chúng ta đang ở trên cùng một con thuyền, tất cả chúng ta đều mong manh và mất phương hướng, nhưng đồng thời quan trọng và cần thiết, tất cả chúng ta đều được kêu gọi cùng nhau chèo chống” [11] vì “không một ai tự mình đạt đến sự cứu rỗi” [12] và không nhà nước nào có thể bảo đảm ích chung của dân chúng mình nếu nó mãi cô lập [13].

Quan tâm bằng liên đới

Tình liên đới cụ thể nói lên tình yêu thương của chúng ta đối với người khác, không phải như một tình cảm mơ hồ mà là một “quyết tâm vững chắc và kiên trì dấn thân vì ích chung; nghĩa là vì lợi ích của mọi người và của mỗi cá nhân, vì tất cả chúng ta thực sự có trách nhiệm với mọi người” [14]. Tình liên đới giúp chúng ta coi những người khác – bất chấp như những cá nhân hay nói rộng hơn như các dân tộc hay quốc gia - không chỉ là số liệu thống kê, hay như một phương tiện để được sử dụng và sau đó bị vứt đi một khi không còn hữu ích nữa, mà là như những người hàng xóm, những người bạn đồng hành trên hành trình của chúng ta, được kêu gọi như chính chúng ta để tham dự bàn tiệc sự sống mà mọi người đều được Thiên Chúa mời gọi như nhau.

Chăm sóc và bảo vệ sáng thế

Thông điệp Laudato Si ’hoàn toàn ý thức rằng mọi tạo vật đều được nối kết với nhau. Nó cũng nhấn mạnh nhu cầu của chúng ta muốn lắng nghe tiếng kêu cứu của người nghèo, đồng thời, tiếng kêu cứu của sáng thế. Đến lượt nó, việc lắng nghe liên tục và chú ý dẫn đến việc chăm sóc hữu hiệu cho trái đất, ngôi nhà chung của chúng ta, và cho những anh chị em đang gặp khó khăn. Ở đây, một lần nữa tôi muốn nhấn mãnh rằng “cảm thức hiệp thông sâu sắc với toàn bộ thiên nhiên sẽ không thể chân chính nếu trái tim chúng ta thiếu sự âu yếm, cảm thương và quan tâm đối với đồng loại nhân bản của chúng ta” [15]. “Hòa bình, công lý và việc quan tâm tới sáng thế là ba vấn đề vốn có liên hệ qua lại với nhau, không thể tách rời để có thể nói tới một cách riêng lẻ, làm thế chúng ta có nguy cơ rơi vào chủ nghĩa duy giản lược” [16].

7. Chiếc la bàn chỉ con đường chung

Ở thời điểm bị thống trị bởi nền văn hóa lãng phí, đối diện với nhiều bất bình đẳng ngày càng gia tăng cả bên trong lẫn giữa các quốc gia [17], tôi xin kêu gọi các nhà lãnh đạo chính phủ và các các nhà lãnh đạo các tổ chức quốc tế, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp, các khoa học gia, các nhà truyền thông và các nhà giáo dục, tiếp nhận các nguyên tắc này như một “la bàn”có khả năng chỉ hướng đi chung và bảo đảm “ một tương lai nhân ái hơn” [18] trong diễn trình hoàn cầu hóa. Điều này sẽ giúp chúng ta trân quí giá trị và phẩm giá của mọi người, cùng nhau hành động trong tình liên đới vì ích chung, và cứu trợ những người đang chịu cảnh đói nghèo, bệnh tật, nô dịch, xung đột có vũ trang và kỳ tghị. Tôi xin mọi người cầm trên tay chiếc la bàn này và trở thành nhân chứng tiên tri cho nền văn hóa quan tâm, nỗ lực để vượt qua nhiều bất bình đẳng xã hội đang hiện hữu. Điều này chỉ có thể diễn ra qua việc tham gia rộng rãi và có ý nghĩa của phụ nữ, trong gia đình và trong mọi lĩnh vực xã hội, chính trị và định chế.

Chiếc la bàn các nguyên tắc xã hội này, rất cần thiết cho sự phát triển của nền văn hóa quan tâm, cũng chỉ cho thấy các mối liên hệ giữa các quốc gia cần được gợi hứng bởi tình huynh đệ, bởi việc tôn trọng lẫn nhau, bởi tình liên đới và việc tuân thủ luật pháp quốc tế. Về phương diện này, chúng ta phải thừa nhận sự cần thiết phải bảo vệ và cổ vũ các nhân quyền căn bản, vốn có tính bất khả nhượng, phổ biến và không thể phân chia [19].

Cũng cấp bách tương tự là sự cần thiết phải tôn trọng luật nhân đạo, đặc biệt vào lúc này khi các cuộc xung đột và chiến tranh vẫn tiếp diễn không ngừng. Bi thảm thay, nhiều khu vực và cộng đồng không còn nhớ được thời gian họ từng được an ninh và hòa bình. Nhiều thành phố đã trở thành tâm điểm của mất an ninh: các công dân phải vật lộn để duy trì sinh hoạt bình thường của họ trước các cuộc tấn công bừa bãi bằng chất nổ, pháo binh và vũ khí nhỏ. Trẻ em không còn khả năng học tập. Đàn ông và đàn bà không thể làm việc để hỗ trợ gia đình họ. Nạn đói đang lan rộng ở những nơi mà trước đây nó chưa bao giờ được biết đến. Người ta đang bị buộc phải trốn chạy, bỏ lại không những nhà cửa mà cả lịch sử gia đình và cội nguồn văn hóa của họ.

Trong khi những xung đột như vậy có nhiều nguyên nhân, kết quả luôn giống nhau: hủy diệt và các cuộc khủng hoảng nhân đạo. Chúng ta cần dừng lại và tự hỏi điều gì đã khiến thế giới của chúng ta coi xung đột như một điều bình thường, và làm sao trái tim chúng ta có thể được hoán cải và cách suy nghĩ của chúng ta thay đổi, để hoạt động cho hòa bình thực sự trong tình liên đới và huynh đệ.

Biết bao nguồn lực đang được chi cho vũ khí, nhất là vũ khí hạt nhân [20], có thể được sử dụng cho các ưu tiên có ý nghĩa hơn như bảo đảm an toàn cho các cá nhân, cổ vũ hòa bình và phát triển toàn diện con người, chống nghèo đói và cung cấp việc chăm sóc sức khỏe. Các vấn đề hoàn cầu như đại dịch Covid-19 hiện nay và thay đổi khí hậu chỉ làm cho những thách thức này trở nên hiển nhiên hơn. Quả là một quyết định dũng cảm khi “thành lập ‘Quỹ hoàn cầu’ bằng số tiền chi cho vũ khí và các chi phí quân sự khác, nhằm xóa bỏ nạn đói vĩnh viễn và góp phần vào việc phát triển các nước nghèo nhất”! [21]

8. Giáo dục cho một nền văn hóa quan tâm

Cổ vũ nền văn hóa quan tâm đòi hỏi một diễn trình giáo dục. “La bàn” các nguyên tắc xã hội có thể tỏ ra hữu ích và đáng tin cậy trong nhiều bối cảnh khác nhau nhưng có liên hệ qua lại với nhau. Cho phép tôi đưa ra một số thí dụ:

- Giáo dục người ta quan tâm bắt đầu từ gia đình, hạt nhân tự nhiên và căn bản của xã hội, trong đó chúng ta học cách sống và liên hệ với người khác trong tinh thần tôn trọng lẫn nhau. Tuy nhiên, các gia đình cần được trao quyền để thực hiện nhiệm vụ quan trọng và không thể thiếu này.

- Cùng với gia đình, các trường học và đại học - và ở một số khía cạnh, các phương tiện truyền thông - cũng có trách nhiệm giáo dục [22]. Họ được kêu gọi truyền lại một hệ thống giá trị dựa trên việc công nhận phẩm giá của mỗi người, mỗi cộng đồng ngôn ngữ, sắc tộc và tôn giáo và mỗi dân tộc, cũng như các quyền căn bản phát sinh từ sự công nhận đó. Giáo dục là một trong những cột trụ của một xã hội công bằng và huynh đệ hơn.

- Các tôn giáo nói chung và các nhà lãnh đạo tôn giáo nói riêng có thể đóng một vai trò không thể thiếu trong việc truyền lại cho tín hữu của họ và xã hội nói chung các giá trị liên đới, tôn trọng các dị biệt và quan tâm đến anh chị em đang gặp khó khăn của chúng ta. Ở đây, tôi nghĩ đến những lời đã phát biểu vào năm 1969 của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI trước Quốc hội Uganda: “Đừng sợ Giáo hội; Giáo Hội tôn vinh các bạn, Giáo Hội giáo dục những công dân trung thực và trung thành cho các bạn, Giáo Hội không xúi giục các tranh chấp và chia rẽ, Giáo Hội tìm cách cổ vũ tự do lành mạnh, công bằng xã hội và hòa bình. Nếu Giáo Hội có bất cứ ưu tiên nào, thì ưu tiên đó dành cho người nghèo, cho việc giáo dục các em bé và người ta, cho việc chăm sóc những người đau khổ và bị bỏ rơi ” [23].

- Một lần nữa, tôi xin khuyến khích tất cả những người tham gia công vụ và trong các tổ chức quốc tế, cả chính phủ lẫn phi chính phủ, và tất cả những người khác đang tham gia nhiều cách vào các lĩnh vực giáo dục và nghiên cứu, làm việc hướng tới mục tiêu có được “một nền giáo dục cởi mở và bao hàm nhiều hơn, bao gồm việc kiên nhẫn lắng nghe, đối thoại xây dựng và hiểu biết lẫn nhau nhiều hơn” [24]. Tôi hy vọng rằng lời kêu gọi này, đưa ra trong bối cảnh Hiệp ước Hoàn cầu về Giáo dục, sẽ được thừa nhận và chấp nhận rộng rãi.

9. Không thể có hòa bình nếu không có nền văn hóa quan tâm

Do đó, nền văn hóa quan tâm đòi hỏi một cam kết chung, có tính hỗ trợ và bao gồm để bảo vệ và cổ vũ phẩm giá và sự thiện của mọi người, một việc sẵn lòng biểu lộ mối quan tâm và cảm thương, làm việc để hòa giải và hàn gắn, cũng như thăng tiến việc tôn trọng và chấp nhận lẫn nhau. Như thế, nó đại diện cho một con đường ưu tuyển dẫn đến hòa bình. “Ở nhiều nơi trên thế giới, đang cần có những con đường hòa bình để hàn gắn các vết thương chưa lành" (25).

Vào thời điểm như thế này, khi con thuyền nhân loại, bị sóng bão của cuộc khủng hoảng hiện tại xô đẩy, đang vật lộn để tiến tới một chân trời thanh bình và thanh thản hơn, thì “bánh lái” phẩm giá con người và “la bàn” các nguyên tắc xã hội căn bản có thể giúp chúng ta cùng nhau lèo lái đúng hướng an toàn. Là các Kitô hữu, chúng ta nên luôn hướng về Đức Mẹ, Ngôi sao Biển và Mẹ niềm Hy vọng. Xin cho chúng ta cùng nhau làm việc tiến tới một chân trời mới của yêu thương và hòa bình, của tình huynh đệ và liên đới, của việc hỗ trợ và chấp nhận lẫn nhau. Xin cho chúng ta đừng bao giờ sa vào cơn cám dỗ coi thường người khác, nhất là những người túng thiếu nhất, và nhìn đi hướng khác [26]; thay vào đó, xin cho chúng ta hàng ngày cố gắng, một cách cụ thể và thiết thực, “hình thành một cộng đồng gồm các anh chị em biết chấp nhận và quan tâm lẫn nhau ” [27].

Từ Điện Vatican, ngày 8 tháng 12 năm 2020

Phanxicô

______________________

Ghi chú

[1] Xem Thông điệp Video gửi Phiên họp thứ 75 của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, 25 Tháng 9 năm 2020.

[2] Xem Thông điệp Laudato Si’ (24 tháng 5, 2015), 67.

[3] Xem “Tình Huynh đệ, Nền tảng và Đường đi tới Hòa bình”, Thông điệp Ngày Hòa bình Thế giới năm 2014 (8 tháng 12, 2013), 2.

[4] Thông điệp Laudato Si’ (24 tháng 5, 2015), 70.

[5] Hội đồng Giáo Hoàng về công lý và hòa bình, Tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo Hội, số 488.

[6] De Officiis, 1, 28, 132: PL 16, 67.

[7] K. Bihlmeyer-H. Tüchle, Church History, vol. 1, Westminster, The Newman Press, 1958, pp. 373, 374.

[8] Diễn văn với Các Tham dự viên Hội nghị do Bộ Cổ vũ Việc Phát triển Con người Tòan diện tổ chức để đánh dấu Năm thứ 50 thông điệp Populorum Progressio (4 tháng 4, 2017).

[9] Thông điệp gửi Phiên họp thứ 22 của Hội Nghị Các Bên tham dự Công ước Khung của Liên Hiệp Quốc về Thay đổi Khí hậu (COP22), 10 tháng 11, 2016. Xem Hội nghị Bàn tròn Liên bộ của Tòa Thánh về Nền Sinh thái Toàn diện, Hành trình tiến tới việc Chăm só Ngôi Nhà chung của Chúng ta: 5 Năm sau Laudato Si’, Libreria Editrice Vaticana, 31 tháng 5, 2020.

[10] Công Đồng Vatican II, Gaudium et Spes, 26.

[11] Thời khắc Cầu nguyện Ngoại thường thời Đại dịch, 27 tháng 3, 2020.

[12] Đã dẫn

[13] Xem Thông điệp Fratelli Tutti (3 tháng 10, 2020), 8; 153.

[14] Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Sollicitudo Rei Socialis (30 tháng 12, 1987), 38.

[15] Thông điệp Laudato Si’ (24 tháng 5, 2015), 91.

[16] Hội Đồng Giám Mục Cộng hòa Dominican, Thư Mục vụ Sobre la relación del hombre con la naturaleza (21 tháng 1, 1987); xem Thông điệp Laudato Si’ (24 tháng 5, 2015), 92.

[17] Xem Thông điệp Fratelli Tutti (3 tháng 10, 2020), 125.

[18] Đã dẫn, 29.

[19] Xem Thông điệp gửi các Tham dự viên Hội Nghị Quốc tế “Nhân quyền tong Thế giới Ngày nay: Các thành tựu, Bỏ sót, Bác bỏ”, Rome, 10-11 tháng 12, 2018.

[20] Xem Thông điệp gửi Hội nghị Liên Hiệp Quốc nhằm Thương thảo một Dụng cụ Trói buộc Hợp pháp Ngăn cấm Vũ khí Hạt nhân, Dẫn tới Việc Loại bỏ Chúng Hoàn toàn, 23 tháng 3, 2017.

[21] Thông điệp Video nhân ngày Thực Phẩm Thế Giới năm 2020 (16 tháng 10, 2020).

[22] Xem Đức Bênêđíctô XVI, “Giáo dục Người trẻ về Công lý và Hòa bình”, Thông điệp nhân Ngày Hòa bình Thế giới năm 2012, (8 tháng 12, 2011), 2; “Vượt qua Dửng dưng và Chiến thắng Hòa bình”, Thông điệp nhân Ngày Hòa bình Thế giới năm 2016, (8 tháng 12, 2015), 6.

[23] Diễn văn với Quốc Hội Uganda, Kampala, 1 tháng 8, 1969.

[24] Thông điệp nhân ngày Phát động Tác dụng Hoàn cầu về Giáo dục, 12 tháng 9, 2019.

[25] Thông điệp Fratelli Tutti (3 tháng 10, 2020), 225.

[26] Xem Đã dẫn 64.

[27] Đã dẫn, 96; xem “Tình Huynh đệ, Nền tảng và Đường đi tới Hòa bình”, Thông điệp Ngày Hòa bình Thế giới năm 2014 (8 tháng 12, 2013), 1.

Tóm tắt Huấn thị của Bộ Giáo sĩ về việc cải cách giáo xứ và tái cơ cấu giáo phận
21/07/2020

Huấn thị của Bộ Giáo sĩ đề ra các dự án khác nhau để cải cách giáo xứ giữa tình trạng thiếu ơn gọi và canh tân sự dấn thân của giáo dân trong việc loan báo Tin Mừng.

Ngày 20/07/2020, Bộ Giáo sĩ đã ban hành Huấn thị về việc “hoán cải mục vụ của cộng đồng giáo xứ để phục vụ cho sứ vụ loan báo Tin Mừng của Giáo hội”. Huấn thị này đã được Đức Thánh Cha Phanxicô phê chuẩn vào ngày 27/06 và được Bộ Giáo sĩ ký ngày 29/06. Huấn thị mở rộng các hướng dẫn trước đây về giáo xứ, bắt đầu bằng tài liệu Ecclesia de mysterio (1997) và Linh mục, mục tử và người hướng dẫn của cộng đoàn (2002).

Huấn thị mới không đưa ra bất kỳ luật mới nào nhưng đưa ra những cách thức để áp dụng các quy tắc giáo luật hiện hành cho có hiệu năng hơn, với mục đích cổ võ sự đồng trách nhiệm của những người đã lãnh nhận Bí tích rửa tội và thúc đẩy việc chăm sóc mục vụ dựa trên sự gần gũi và hợp tác giữa các giáo xứ.

Nguyên tắc chính yếu của Huấn thị là Giáo hội có chỗ cho mọi người, trong khi tôn trọng ơn gọi của mỗi người.

Điều nổi bật nhất trong Huấn thị là sự khẩn thiết canh tân truyền giáo, một sự hoán cải mục vụ để có thể tái khám phá ra sự năng động và sáng tạo giúp giáo xứ luôn luôn “đi ra”, với sự hỗ trợ và đóng góp của tất cả mọi người đã được rửa tội.

Giáo hội: Ngôi nhà giữa các ngôi nhà

Trong phần thứ nhất, từ chương 1-6, Huấn thị suy tư về việc đổi mới mục vụ, tiếp cận truyền giáo và các giá trị của giáo xứ trong bối cảnh đương đại. Huấn thị mô tả giáo xứ là “một ngôi nhà giữa nhiều ngôi nhà” khi là dấu chỉ trường tồn của Đấng Phục Sinh ở giữa Dân Người và bản chất truyền giáo của nó là nền tảng cho việc truyền giáo. Toàn cầu hóa và thế giới kỹ thuật số đã làm thay đổi sự liên kết cụ thể của nó về lãnh thổ mà nó bao trùm. Do đó, giáo xứ không còn là một không gian địa lý, mà là một không gian hiện hữu. Chính trong bối cảnh này, “tính linh hoạt” của giáo xứ xuất hiện, cho phép nó đáp ứng những yêu sách của thời đại và thích nghi việc mục vụ với các tín hữu và với lịch sử.

Canh tân truyền giáo

Do đó, Huấn thị nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc canh tân sứ mệnh truyền giáo trong các cấu trúc của giáo xứ: tránh xa sự tự quy chiếu và loại bỏ sự giáo sĩ hóa, phải nhắm đến sự linh động thiêng liêng và cuộc hoán cải mục vụ dựa trên việc loan báo Lời Chúa, đời sống bí tích và chứng tá bác ái.
“Văn hóa gặp gỡ” phải là bối cảnh thiết yếu cho việc đối thoại, đoàn kết và cởi mở đón nhận mọi người. Theo cách này, các cộng đồng giáo xứ có thể phát triển một “nghệ thuật đồng hành” thực sự. Đặc biệt, Huấn thị khuyến khích trở nên chứng nhân về đức tin trong đức ái và nhấn mạnh tới tầm quan trọng của việc chăm sóc người nghèo mà giáo xứ loan báo Tin Mừng và được rao giảng Tin Mừng bởi họ.
Mỗi tín hữu được rửa tội phải là một nhân tố tích cực trong việc truyền giáo và do đó thay đổi tâm thức và đổi mới nội tâm là điều thiết yếu để thực hiện một cuộc cải cách truyền giáo về mục vụ. Đương nhiên, các quá trình thay đổi này cần phải linh hoạt và tiệm tiến, để mọi dự án được đặt trong bối cảnh thực tế của đời sống cộng đoàn, không nên được áp đặt và không nên “giáo sĩ trị” việc chăm sóc mục vụ.

Những phân chia trong giáo phận

Phần thứ hai của Huấn thị, từ chương 7-11, bắt đầu với việc phân tích vấn đề phân chia giáo xứ. Trước hết, Huấn thị giải thích rằng các giáo xứ cần tuân thủ theo một nguyên tắc chính là sự gần gũi, trong khi xét tới những điểm tương đồng về dân số và những đặc điểm của địa hạt. Tiếp đến, Huấn thị tập trung vào các tiến trình cụ thể liên quan đến việc thành lập, sáp nhập hoặc phân chia các giáo xứ, và về các điều khoản liên quan đến Vicariati Foranei (còn được gọi là hạt), liên kết một số giáo xứ, và các đơn vị mục vụ, qui tụ một số hạt (Vicariati Foranei).

Cha sở: “mục tử” của cộng đoàn

Sau đó, Huấn thị nói đến chủ đề chăm sóc mục vụ của các cộng đoàn giáo xứ, theo cách thông thường và cách ngoại thường. Trước hết, Huấn thị nhấn mạnh vai trò của cha sở là một “mục tử ” của chính cộng đồng. Ngài phục vụ giáo xứ, chứ không phải giáo xứ phục vụ ngài, và ngài chăm sóc toàn bộ các linh hồn. Do đó, cha sở phải là người đã được lãnh nhận chức linh mục; mọi khả năng khác đều bị loại trừ.
Là người quản lý tài sản của giáo xứ và là đại diện pháp lý của giáo xứ, cha sở được bổ nhiệm vô hạn định, vì lợi ích của linh hồn đòi có sự ổn định cũng như những hiểu biết về cộng đoàn và sự gần gũi. Tuy nhiên, Huấn thị cũng nhắc nhở rằng, những nơi Hội đồng giám mục đã ấn định bằng văn bản, một Giám mục có thể bổ nhiệm một linh mục chính xứ cho một thời gian cố định, với điều kiện là không ít hơn 5 năm.
Khi đến tuổi 75, cha sở có “nghĩa vụ luân lý” làm đơn từ chức; nhưng việc từ chức chỉ bắt đầu khi được Đức Giám Mục chấp thuận và thông báo chấp thuận bằng văn bản. Trong mọi trường hợp, sự chấp nhận luôn có “nguyên nhân chính đáng và tương xứng” để tránh ý niệm “duy chức năng” của thừa tác vụ.

Các phó tế: các thừa tác viên được phong chức, không phải là người ‘nửa linh mục nửa giáo dân’

Một phần lớn của chương thứ tám dành riêng nói về các phó tế. Họ là cộng sự viên của Giám mục và của các linh mục trong sứ mạng truyền giảng Tin Mừng. Họ được thụ phong chức phó tế và tham dự vào Bí tích Truyền chức, đặc biệt trong lĩnh vực truyền giáo và bác ái, bao gồm việc quản trị tài sản, loan báo Tin Mừng và phục vụ tại bàn tiệc Thánh Thể. Trích dẫn lời của Đức Thánh Cha Phanxicô nói rằng ơn gọi của các phó tế không được nhìn dưới lăng kính duy giáo sĩ hay duy chức năng, Huấn thị khẳng định rằng các phó tế không được xem là “nửa linh mục nửa giáo dân”.

Chứng tá của những người thánh hiến và sự dấn thân quảng đại của giáo dân

Bộ Giáo sĩ cũng suy tư về các tu sĩ nam nữ, cũng như giáo dân, trong các cộng đồng giáo xứ. Trước hết, về các tu sĩ nam nữ, Huấn thị nhắc rằng họ đóng góp trên hết nhờ bản chất của họ, là “chứng tá của việc theo Chúa Kitô cách triệt để”. Về các giáo dân, Huấn thị nhắc rằng họ tham gia vào hoạt động loan báo Tin Mừng của Giáo hội. Họ được mời gọi “dấn thân cách quảng đại” qua cuộc sống hàng ngày theo Tin Mừng, trong khi phục vụ cộng đồng giáo xứ.

Các giáo dân có thể là các thừa tác “Đọc sách và Giúp lễ” trong việc phục vụ Bàn thánh và các công tác được trao phó. Họ hiệp thông trọn vẹn với Giáo hội công Giáo, được huấn luyện đầy đủ và có một đời sống cá nhân mẫu mực. Ngoài ra, trong những hoàn cảnh đặc biệt, họ có thể nhận được các nhiệm vụ khác từ Đức Giám Mục, “theo phán quyết thận trọng của ngài”, như việc cử hành Phụng vụ Lời Chúa và các nghi thức an táng, cử hành Bí tích Thanh tẩy, hướng dẫn chuẩn bị hôn nhân – và với phép của Tòa Thánh – họ có thể giảng trong Nhà thờ hoặc nhà nguyện trong trường hợp cần thiết. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, giáo dân không được giảng trong các Thánh lễ.

Các cơ quan đồng trách nhiệm trong Giáo hội

Hội đồng Tài chính

Huấn thị cũng suy tư về các cơ quan của giáo xứ có đồng trách nhiệm trong Giáo hội, trong đó có Hội đồng Tài chính Giáo xứ, với chức năng tư vấn, do cha sở chủ trì, và có ít nhất là ba thành viên. Cơ quan này cần thiết vì điều hành tài sản của giáo xứ là một lãnh vực quan trọng của việc loan báo Tin Mừng và chứng tá Tin Mừng, cả trong Giáo hội và xã hội dân sự.
Bộ Giáo sĩ xác quyết: Tất cả tài sản thuộc về giáo xứ, chứ không thuộc về cha sở. Do đó, nhiệm vụ của Hội đồng Tài chính Giáo xứ sẽ thúc đẩy một “văn hóa đồng trách nhiệm, minh bạch hành chính và phục vụ cho các nhu cầu của Giáo hội.”

Hội đồng Mục vụ

Hội đồng Mục vụ Giáo xứ cũng đóng vai trò cố vấn, và rất được khuyến khích. Hội đồng Mục vụ không phải là một cơ quan công quyền quan liêu; ngược lại nó phải kiến tạo tinh thần hiệp thông, đề cao tính trung tâm của Dân Chúa như chủ thể tích cực của việc loan báo Tin Mừng. Chức năng trung tâm của Hội đồng này là tìm kiếm và nghiên cứu các đề nghị thực hành cho các sáng kiến mục vụ và bác ái của giáo xứ, hài hòa với chương trình của giáo phận. Tất cả các đề xuất phải được sự chấp thuận của cha xứ trước khi được mang ra thi hành.

Các Bí tích được ban nhưng không; dâng cúng là việc tự nguyện

Chương cuối tập trung vào việc dâng cúng cho các cử hành bí tích. Việc dâng cúng này là một hành động tự do và không được xem như một thứ tiền công hay thuế má. Huấn thị khuyến nghị: Đời sống bí tích không nên “mặc cả” và việc cử hành Thánh lễ, giống như các việc mục vụ khác, không thể bị áp giá cả, thương lượng hoặc buôn bán. Thay vào đó, các linh mục được khuyến khích là gương mẫu đạo đức trong việc sử dụng tiền, thông qua lối sống điều độ và quản lý minh bạch tài sản của giáo xứ. Bằng cách này, các ngài sẽ có thể giúp các tín hữu ý thức để họ sẵn sàng đóng góp cho nhu cầu của giáo xứ cũng là “chuyện của họ”.

Các tài liệu trước đây

Huấn thị mới này ra đời sau Huấn thị được liên Thánh bộ ban hành năm 1997, “Ecclesia de mysterio, về các vấn đề liên quan đến sự cộng tác của tín hữu với cha xứ” và Huấn thị của Bộ Giáo sĩ ban hành năm 2002, đề cập đến “Linh mục chính xứ và cộng đoàn giáo xứ.”

Hồng Thủy

Nguồn: Đài Vatican News

BirdofParadise3“Năm Kỷ Niệm Đặc Biệt Laudato Sì” – Ngày 24/05 Cầu Nguyện Cho Trái Đất Và Nhân Loại
22-05-2020

Trong số các sáng kiến nhân dịp kỷ niệm 5 năm Đức Thánh Cha Phanxicô ban hành Thông điệp Laudato Si’ về bảo vệ và chăm sóc trái đất, ngôi nhà chung của chúng ta, có sáng kiến “Năm Kỷ niệm đặc biệt Laudato Si’”, từ ngày 24/05/2020-24/05/2021. Mọi người được mời gọi cầu nguyện vào giữa trưa ngày 24/05.
“Năm Kỷ niệm đặc biệt Laudato Si” là một sáng kiến của Bộ Phục vụ và Phát triển con người toàn diện, bao gồm một loạt các sự kiện, bắt đầu bằng một ngày cầu nguyện toàn cầu và kết thúc bằng việc khởi động các kế hoạch hành động bền vững trong nhiều năm.

Thông điệp Laudato Sì là kim chỉ nam về đạo đức và tinh thần
Thông cáo của Bộ Phục vụ và Phát triển con người toàn diện nói rằng khi thế giới tiếp tục đối phó với đại dịch virus corona, sứ điệp của Thông điệp Laudato Si’ ngày nay vẫn có tính ngôn sứ, giống như vào năm 2015. Thông cáo viết: “Thông điệp thực sự có thể cung cấp la bàn đạo đức và tinh thần cho hành trình kiến tạo một thế giới thân thiện, huynh đệ, hòa bình và bền vững hơn.” “Quả thật, Covid-19 đã cho thấy rõ rằng tất cả chúng ta kết nối và phụ thuộc lẫn nhau sâu sắc như thế nào. Khi chúng ta bắt đầu hình dung một thế giới hậu Covid, trước hết, chúng ta cần một cách tiếp cận toàn diện vì mọi thứ liên quan chặt chẽ với nhau và các vấn đề ngày nay đòi hỏi một tầm nhìn có khả năng xem xét mọi khía cạnh của cuộc khủng hoảng toàn cầu.”
Ngày cầu nguyện cho trái đất và nhân loại

Năm đặc biệt Laudato Si’ bắt đầu từ ngày 24/05, với một ngày cầu nguyện cho trái đất và cho nhân loại. Một kinh nguyện được soạn đặc biệt cho dịp này; mọi người được khuyến khích đọc nó vào lúc giữa trưa ở bất cứ nơi nào trên thế giới.
“Chương trình bảy năm hướng tới nền sinh thái toàn diện”

Bên cạnh đó còn có các buổi hội thảo trên web về vấn đề chăm sóc môi trường, giáo dục và kinh tế. Bộ Phục vụ và Phát triển con người toàn diện cũng mô tả chi tiết về “chương trình bảy năm hướng tới nền sinh thái toàn diện” cho các gia đình, giáo phận, trường học, đại học, bệnh viện, doanh nghiệp, trang trại và các dòng tu. Mục đích của chương trình này là đáp lại cách cụ thể tiếng kêu của trái đất và người nghèo, để thúc đẩy kinh tế và nhận thức sinh thái, và áp dụng lối sống đơn giản hơn.


Hồng Thủy – Vatican News Tiếng Việt

green butterflyHôm 12/5/2020, Ngày Quốc tế Điều dưỡng, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã gởi đến các Y tá và Nữ hộ sinh thông điệp sau:

Anh chị em thân mến,

Hôm nay chúng ta kỷ niệm Ngày Quốc tế Điều dưỡng, trong bối cảnh Năm Quốc tế của các Y tá và Nữ hộ sinh được Tổ chức Y tế Thế giới tuyên bố chính thức. Đồng thời, chúng ta cũng cử hành kỷ niệm hai trăm năm ngày khánh thành dưỡng đường Florence Nightingale, là người tiên phong của ngành điều dưỡng hiện đại.

Tại thời điểm quan trọng này, được đánh dấu bởi tình trạng khẩn cấp về sức khỏe toàn cầu do đại dịch Covid-19 gây ra, chúng ta đã tái khám phá tầm quan trọng cơ bản của vai trò của các y tá và nữ hộ sinh. Mỗi ngày chúng ta chứng kiến các chứng tá về lòng dũng cảm và sự hy sinh của các nhân viên y tế và đặc biệt là các y tá, với sự chuyên nghiệp, tự hy sinh, và ý thức trách nhiệm và tình yêu đối với người lân cận, hỗ trợ những người bị ảnh hưởng bởi virus, thậm chí đến mức đặt sức khỏe của chính họ vào nguy cơ. Đáng buồn thay khi điều này có thể được nhìn thấy nơi con số đông đảo các nhân viên y tế đã chết vì sự phục vụ tận tụy của họ. Tôi cầu nguyện cho họ - Chúa biết từng người trong số họ - và cho tất cả các nạn nhân của dịch bệnh này. Xin Chúa Phục sinh ban cho mỗi người ánh sáng thiên đàng, và ban cho gia đình họ niềm an ủi đức tin.

Các y tá trong lịch sử đã đóng một vai trò trung tâm trong việc chăm sóc sức khỏe. Mỗi ngày, khi tiếp xúc với người bệnh, họ trải qua những tổn thương do những đau khổ trong cuộc sống của mọi người. Họ là những người nam nữ đã chọn cách nói “vâng” với một ơn gọi rất đặc biệt: đó là trở thành người Samaritanô nhân lành đang lo ngại cho cuộc sống và đau khổ của người khác. Họ là những người chăm sóc và bảo vệ sự sống, những người trong lúc điều hành các phương pháp điều trị cần thiết, trao ra sự can đảm, hy vọng và tin tưởng. [1]

Các y tá thân mến, trách nhiệm đạo đức là điểm nổi bật trong dịch vụ chuyên nghiệp của các bạn, là điều không thể giản lược thành kiến thức khoa học kỹ thuật mà thôi, nhưng phải được truyền cảm hứng liên tục từ mối quan hệ nhân bản và ấm áp tình người của các bạn với các bệnh nhân. “Khi chăm sóc cho những người nam nữ, trẻ em và người già, trong mỗi giai đoạn của cuộc sống của họ, từ khi sinh ra cho đến cái chết, các bạn có nhiệm vụ lắng nghe liên tục, nhằm tìm hiểu những nhu cầu của các bệnh nhân, trong giai đoạn họ đang trải qua. Trước tính chất độc đáo của mỗi tình huống, thực sự, tuân theo một giao thức mà thôi thì không bao giờ là đủ, nhưng điều cần thiết là phải có một nỗ lực phân định liên tục – và thường là mệt mỏi – để chú ý đến mỗi cá nhân” [2].

Các bạn - và ở đây tôi cũng nghĩ đến các nữ hộ sinh – là những người gần gũi với mọi người vào những thời điểm quan trọng trong sự sống của họ - sinh, lão, bệnh, tử - giúp họ đối phó với các tình huống đầy hoang mang. Đôi khi các bạn thấy mình ở bên cạnh họ khi họ sắp chết, mang lại sự thoải mái và thanh thản trong những giây phút cuối cùng của họ. Vì sự cống hiến của các bạn, các bạn là một trong những “vị thánh bên cạnh”. [3] Các bạn là một hình ảnh của Giáo Hội như một “bệnh viện dã chiến” đang tiếp tục thực hiện sứ mệnh của Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã thu hút lại gần và chữa lành những người bị đủ thứ các loại bệnh tật, và là Đấng cúi xuống rửa chân cho các môn đệ. Cảm ơn các bạn đã phục vụ nhân loại!

Ở nhiều quốc gia, đại dịch cũng đã bộc lộ một số thiếu sót trong việc cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Vì lý do này, tôi sẽ yêu cầu các nhà lãnh đạo các quốc gia trên toàn thế giới đầu tư vào việc chăm sóc sức khỏe như một thiện ích chung, bằng cách củng cố các hệ thống quốc gia và sử dụng một số lượng y tá lớn hơn, nhằm bảo đảm chăm sóc đầy đủ cho mọi người, tôn trọng phẩm giá của mỗi người. Điều quan trọng là nhận ra một cách hiệu quả vai trò thiết yếu của nghề nghiệp của các bạn trong việc chăm sóc các bệnh nhân, trong các hoạt động khẩn cấp tại địa phương, trong nỗ lực phòng chống dịch bệnh, tăng cường sức khỏe và hỗ trợ trong các môi trường gia đình, cộng đồng và trường học.

Các y tá, cũng như các nữ hộ sinh, xứng đáng có quyền được tốt hơn và có giá trị đầy đủ hơn và tham gia vào các quá trình liên quan đến sức khỏe của cá nhân và cộng đồng. Việc đầu tư vào đội ngũ y tá và nữ hộ sinh giúp cải thiện việc chăm sóc và sức khỏe tổng thể là điều đã được chứng minh. Do đó, tính chuyên nghiệp của họ cần được tăng cường bằng cách cung cấp các công cụ khoa học, nhân văn, tâm lý và tinh thần phù hợp cho việc đào tạo họ; cũng như bằng cách cải thiện các điều kiện làm việc và bảo đảm quyền lợi của họ, để họ có thể thực hiện sứ vụ của mình một cách xứng đáng.

Về vấn đề này, các hiệp hội dành cho các nhân viên y tế đóng một vai trò quan trọng. Ngoài việc cung cấp đào tạo toàn diện, họ hỗ trợ từng thành viên của họ, khiến các nhân viên y tế cảm thấy mình là một phần của một cơ thể lớn hơn, không bao giờ mất tinh thần và cô đơn khi họ phải đối mặt với những thách thức về đạo đức, kinh tế và con người mà nghề nghiệp của họ đòi hỏi.

Tôi muốn nói một lời đặc biệt đến các nữ hộ sinh hỗ trợ các phụ nữ đang mang thai và giúp họ sinh con. Công việc của các bạn là một trong những nghề cao quý nhất, vì nó trực tiếp dành riêng cho việc phục vụ cuộc sống và làm mẹ. Trong Kinh thánh, tên của hai nữ hộ sinh anh hùng, Shiphrah và Puah, được ghi khắc mãi mãi trong Sách Xuất hành (x. 1: 15-21). Hôm nay cũng vậy, Cha trên trời nhìn các bạn với lòng cảm mến.

Các y tá thân mến, các nữ hộ sinh thân mến, cầu xin cho lễ kỷ niệm thường niên này làm nổi bật phẩm giá của công việc các bạn vì lợi ích sức khỏe của toàn xã hội. Tôi bảo đảm những lời cầu nguyện của tôi dành cho các bạn, gia đình các bạn và những người các bạn quan tâm, và tôi ưu ái ban phép lành Tòa Thánh cho tất cả các bạn.

Rôma, từ Đền Thờ Thánh Gioan Latêranô, ngày 12 tháng 5 năm 2020

+ Đức Giáo Hoàng Phanxicô

[1] x. Hiến Chương mới về các nhân viên y tế, các số từ 1 đến 8.

[2] Diễn từ với các thành viên của Liên Đoàn Y Tá Chuyên Nghiệp Italia, 3 Tháng Ba, 2018.

[3] Bài giảng thứ Năm Tuần Thánh, 9 tháng Tư, 2020.

Hôm thứ Sáu, ngày 20 tháng Ba năm 2020, Tòa Thánh đã công bố Sắc lệnh của Tòa Ân Giải Tối Cao, liên quan đến những ân xá đặc biệt dành cho các tín hữu trong cuộc khủng hoảng đại dịch coronavirus hiện nay. Đức Hồng Y Mauro Piacenza, Chánh Tòa và Đức Ông Krzydztof Nykiel, Nhiếp chính, đã ký Sắc lệnh vào ngày 19 tháng 3.

Trường hợp thứ nhất được hưởng ơn Toàn Xá này là những người nhiễm bệnh đang cách ly tại nhà hoặc tại bệnh viện, theo lệnh kiểm dịch của Cơ quan Y tế, “nếu, với một ý chí từ bỏ mọi quyến luyến đối với tội lỗi, tham gia về mặt tinh thần thông qua các phương tiện truyền thông các Thánh Lễ trực tuyến, hay lần chuỗi Mân Côi, hay thực hành đạo đức đi Đàng Thánh Giá hoặc các hình thức sùng kính khác, nếu ít nhất họ đọc một kinh Tin Kính, một kinh Lạy Cha và một lời cầu khẩn đến Đức Trinh Nữ Maria, dâng thử thách này với một tinh thần đức tin nơi Thiên Chúa và đức ái huynh đệ.”

Tòa Ân Giải Tối Cao nhắc lại các điều kiện luật định để được ơn toàn xá là xưng tội, rước lễ, cầu nguyện theo ý Đức Thánh Cha và từ bỏ mọi quyến luyến đối với tội lỗi. Tuy nhiên, việc xưng tội, rước lễ, cầu nguyện theo ý Đức Thánh Cha có thể làm sau khi có thể.

Trường hợp thứ hai được hưởng ơn Toàn Xá này là các nhân viên y tế, các thân nhân của họ và tất cả những người mà, “theo gương của người Samaritanô nhân hậu, liều mình với các nguy cơ nhiễm trùng khi chăm sóc cho người nhiễm coronavirus, và thực hiện các điều kiện như đề cập đến bên trên.

Trường hợp thứ ba là tất cả mọi tín hữu nào thực hiện các điều kiện như đề cập đến bên trên, đồng thời, “kính viếng Thánh Thể, tham gia vào việc Chầu Mình Thánh Chúa, hoặc đọc Thánh Kinh trong ít nhất nửa giờ, hoặc lần chuỗi Mân Côi, hoặc thực hiện thực hành đạo đức đi Đàng Thánh Giá, hoặc cầu nguyện với Lòng thương xót Chúa, để cầu khẩn Thiên Chúa Toàn năng chấm dứt dịch bệnh, chữa lành cho những người bị ảnh hưởng và ban ơn cứu độ muôn đời cho những người mà Chúa đã gọi về với Ngài”

Toàn văn sắc lệnh của Tòa Ân Giải Tối Cao

Ơn xá đặc biệt được ban cho các tín hữu nhiễm COVID-19, thường được gọi là coronavirus, cũng như cho các nhân viên y tế, người thân của họ và tất cả những người chăm sóc họ ở mọi mức độ.

“Hãy vui mừng vì có niềm hy vọng, cứ kiên nhẫn lúc gặp gian truân, và chuyên cần cầu nguyện” (Rm 12:12). Những lời này của Thánh Phaolô viết cho Giáo Hội tại Rôma vang lên trong suốt lịch sử của Giáo Hội và định hướng sự phán đoán của các tín hữu trước mọi đau khổ, bệnh tật và tai họa.

Khoảnh khắc hiện tại mà toàn bộ nhân loại đang phải trải qua, khi bị đe dọa bởi một căn bệnh vô hình và quỷ quyệt, trong một thời gian đã bước vào [thế giới] một cách ngạo nghễ để hình thành một phần trong cuộc sống của mọi người, được đánh dấu qua từng ngày bởi những nỗi sợ hãi, những bất trắc mới và trên hết, những khổ đau lan rộng về thể chất và đạo đức.

Theo gương Thầy Chí Thánh của mình, Giáo hội luôn quan tâm đến việc chăm sóc các bệnh nhân. Như Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã chỉ ra, giá trị của đau khổ nhân sinh là hai mặt: “Siêu nhiên và, đồng thời, là nhân bản. Nó là siêu nhiên, bởi vì nó bắt nguồn từ mầu nhiệm thiêng liêng của ơn cứu chuộc thế giới, và nó cũng là nhân bản sâu sắc, bởi vì trong đó con người tìm thấy chính mình, bản tính loài người của chính mình, phẩm giá của chính mình và sứ mệnh của chính mình.” (Tông Thư Salvifici Doloris, 31).

Trong những ngày qua, Đức Thánh Cha Phanxicô cũng đã biểu lộ sự gần gũi hiền phụ của ngài và lặp lại lời mời cầu nguyện không ngừng cho những người nhiễm coronavirus.

Để tất cả những ai phải đau khổ vì Covid-19, chính trong mầu nhiệm đau khổ này, có thể tái khám phá “cùng một đau khổ cứu chuộc của Chúa Kitô, Tòa Ân Giải Tối Cao này, ex auctoritate Summi Pontificis, tin tưởng vào (thd., 30) Lời của Chúa Kitô và xem xét với một tinh thần đức tin dịch bệnh hiện tại đang diễn ra, để sống tình trạng này với tinh thần hoán cải cá vị, quyết định ban ơn xá theo quy định sau đây.

Một ơn Toàn Xá được ban cho các tín hữu nhiễm coronavirus, bị cách ly theo lệnh của Cơ quan y tế tại bệnh viện hoặc tại nhà riêng của mình, nếu, với một tinh thần từ bỏ mọi quyến luyến đối với tội lỗi, tham gia về mặt tinh thần thông qua các phương tiện truyền thông các Thánh Lễ trực tuyến, hay lần chuỗi Mân Côi, hay thực hành đạo đức đi Đàng Thánh Giá hoặc các hình thức sùng kính khác, nếu ít nhất họ đọc một kinh Tin Kính, một kinh Lạy Cha và một lời cầu khẩn đến Đức Trinh Nữ Maria, dâng thử thách này với một tinh thần đức tin nơi Thiên Chúa và đức ái huynh đệ, và với một ý chí thực hiện các điều kiện thông thường (là xưng tội, rước lễ, cầu nguyện theo ý Đức Thánh Cha), ngay khi có thể.

Các nhân viên y tế, các thân nhân, và tất cả những người mà, theo gương của người Samaritanô nhân hậu, liều mình với các nguy cơ nhiễm trùng khi chăm sóc cho người nhiễm coronavirus, theo lời của Chúa Cứu Thế: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15:13) sẽ nhận được cùng một Ơn Toàn Xá trong cùng các điều kiện trên.

Hơn nữa, với cùng một điều kiện trên, Tòa Ân Giải Tối Cao này cũng sẵn lòng ban Ơn Toàn Xá trước đại dịch toàn cầu hiện nay, cho những tín hữu kính viếng Thánh Thể, tham gia vào việc Chầu Mình Thánh Chúa, hoặc đọc Thánh Kinh trong ít nhất nửa giờ, hoặc lần chuỗi Mân Côi, hoặc thực hiện thực hành đạo đức đi Đàng Thánh Giá, hoặc cầu nguyện với Lòng thương xót Chúa, để cầu khẩn Thiên Chúa Toàn năng chấm dứt dịch bệnh, chữa lành cho những người bị ảnh hưởng và ban ơn cứu độ muôn đời cho những người mà Chúa đã gọi về với Ngài.

Giáo Hội cầu nguyện cho những người không thể lãnh nhận Bí tích Xức dầu Bệnh Nhân và Của Ăn Đàng [Viaticum - nghi thức cho những người đang hấp hối được rước lễ], phó thác mỗi người và tất cả mọi người cho Lòng thương xót Chúa, nhờ tình Hiệp Thông với Các Thánh, và ban một Ơn Toàn Xá vào lúc lâm tử nếu họ ước ao và đã đọc một số lời cầu nguyện trong suốt cuộc đời của họ (trong trường hợp này, Giáo Hội bãi miễn ba điều kiện bắt buộc thông thường). Để có được Ơn Toàn Xá này, nên sử dụng cây thánh giá hoặc dấu thánh giá (x. Enchiridion Indulgentiarum, số 12).

Xin Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa và Giáo hội, là Sức khỏe của các Bệnh Nhân và Sự Phù Hộ của các Kitô hữu, Trạng sư của chúng ta, giúp đỡ nhân loại khổ đau, xua trừ cái ác của đại dịch này và cầu bầu cho chúng ta mọi điều tốt đẹp cần thiết cho ơn cứu rỗi và ơn thánh hóa chúng ta.

Sắc lệnh này có hiệu lực bất kể những quy định ngược lại.

Làm tại Rôma, từ trụ sở của Tòa Ân Giải Tối Cao, vào ngày 19 tháng 3 năm 2020.

Đức Hồng Y Mauro Piacenza
Chánh Tòa Ân Giải Tối Cao

Đức Ông Krzysztof Nykiel
Nhiếp chính