Mary MotherofGodThánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời,

Tên Maria của Đức Mẹ được thánh Bênađô giải thích là Ngôi sao biển: Như ngôi sao toả ra các tia sáng mà không bị lu mờ, Mẹ Maria là người Trinh Nữ sinh một hài nhi nam là Đức Giêsu, mà không thiệt hại gì về sự trinh khiết vẹn toàn.

Nơi Mẹ Maria cô đọng tất cả sự dịu dàng của phái nữ, tích tụ tất cả vẻ đẹp của vũ trụ. Mẹ Maria là hiện thân của sự Duyên Dáng: sự hoà hợp của những đường nét thanh tao, sự chiếu toả của ánh sáng đôi mắt, sự dịu dàng của nụ cười trên môi...

Thể xác Mẹ Maria xinh đẹp, nhưng tâm hồn của Mẹ còn đẹp gấp nhiều lần. Mẹ là tác phẩm đẹp nhất của Chúa Thánh Thần. Tâm hồn Mẹ trong trắng tinh tuyền, Mẹ hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa. Có thể ví tâm hồn Mẹ với cây đàn hoàn toàn rung theo bàn tay nghệ sĩ là Chúa Thánh Thần. Tâm hồn Mẹ như bài thánh ca tuyệt diệu làm cho Thiên Chúa thích thú và vui sướng. Mẹ là Đấng đầy Hồng Phúc, tràn trề Thiên Ân. Maria là Mẹ của Chúa Giêsu là Đấng Thiên Ân Nhập Thể.

Maria vừa là Mẹ, vừa là trinh nữ. Việc làm Mẹ của Maria có một bản chất đặc biệt: người con của Mẹ được thụ thai nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần, và Đấng Thánh sinh ra được gọi là Con Đấng Tối Cao. Một Vị Thiên Chúa Nhập Thể làm người nơi thân xác của một trinh nữ chỉ thực hiện được do công trình của Thiên Chúa, và đó là Việc Kỳ Diệu lớn nhất của Thiên Chúa cũng như Kỳ Công Phục Sinh Chúa Giêsu từ cõi chết.

Là thành viên của gia đình nhân loại, là người thiếu nữ xinh đẹp được sinh ra bởi hai ông bà Gioakim và Anna, Mẹ Maria cũng là thành viên của gia đình Thiên Chúa, vì Mẹ đã trở thành Mẹ Thiên Chúa trong thời gian và trong cõi vĩnh hằng. Sinh ra Chúa Giêsu, Mẹ Maria vĩnh viễn là Mẹ Chúa Giêsu; mà Chúa Giêsu là Thiên Chúa, nên Mẹ Maria vĩnh viễn là Mẹ Thiên Chúa.

Maria là Mẹ của Đấng Tạo Dựng trời đất, là Mẹ của Đấng Cứu Thế. Con trẻ mà Mẹ cưu mang, sinh hạ, cho bú, chăm sóc, Mẹ bồng bế cho mọi người chiêm ngưỡng, là Thiên Chúa làm người. Maria vừa có thể gọi hài nhi ấy “Con ơi!”, vừa thưa với ngài “Lạy Chúa!”.

Maria, Mẹ của Chúa Giêsu, cũng là Mẹ của tất cả chúng ta. Đức Giêsu là Đại biểu hoàn hảo và xứng đáng nhất của toàn thể nhân loại. Thâu hồi toàn thể nhân loại nơi bản thân mình, Đức Giêsu Kitô đã làm cho Mẹ Ngài trở nên Mẹ của tất cả mọi người. Vã lại, Đức Giêsu, trên cây thập tự đã trối Mẹ Maria lại cho thánh Gioan, và qua Gioan, cho tất cả Hội Thánh, cho tất cả nhân loại chúng ta. Nhân loại là một gia đình gồm những người con được tiền định làm con cái của Thiên Chúa, và con cái của Mẹ Maria.

Ước gì tên Maria mãi mãi ở trên môi miệng chúng ta và đừng bao giờ rời bỏ trái tim chúng ta. Mẹ yêu ta, ta yêu Mẹ, chúng ta yêu thương nhau vì là con cùng một Mẹ. Ta hãy xin Mẹ cầu thay nguyện giúp cho ta, nhưng cũng đừng quên noi gương của Mẹ. Bước theo Mẹ, ta không bao giờ lạc lối; cầu nguyện với Mẹ, ta không thất vọng bao giờ; tham khảo ý kiến của Mẹ, ta sẽ không sai lầm. Mẹ nâng đỡ, ta không dễ dàng sa ngã; Mẹ chở che, ta không phải sợ gì; Mẹ đưa dẫn, ta không còn mệt mõi; Mẹ nhậm lời, chắc ta sẽ thành công.

Đức cha Phaolô Bùi Văn Đọc

Immaculate ConceptionMẹ Maria đã được Thiên Chúa chọn làm Mẹ của Chúa Giêsu – Con Một Người. Để Mẹ được xứng đáng với thiên chức đó hơn, Mẹ đã được Người ban cho đặc ân “vô nhiễm nguyên tội”. Nhờ đó, Mẹ đã không bị truyền tội tổ tông do Adam và Eva gây ra ngày trước. Tuy nhiên, việc lãnh nhận đặc ân đó không phải ngẫu nhiên mà chính là nhờ hai tiếng “xin vâng”. Chính sự vâng phục Thiên Chúa đã đưa Mẹ rời khỏi hàng tội nhân của tội nguyên tổ và trở thành người diễm phúc nhất trong tất cả phụ nữ.

Quả thật, Mẹ đã tin tưởng hết lòng và vâng phục Thiên Chúa. Niềm tin ấy đã thôi thúc Mẹ nói lên lời “xin vâng” để tuân theo ý Người một cách tuyệt đối. Tuy nghe có vẻ dễ dàng, nhưng nếu thử đặt mình vào hoàn cảnh của Mẹ lúc bấy giờ, ta sẽ thấy niềm tin và sự vâng phục ấy to lớn đến mức nào. Ngày nay, việc có con trước hôn nhân không còn là việc quá khủng khiếp như xưa. Giới trẻ có thể thoải mái chiều theo ý muốn của mình mà không bị lên án nghiêm trọng (miễn là vẫn giữ và dưỡng dục đứa con nên người). Tuy nhiên, vào thời bấy giờ lại không như thế. Một người phụ nữ có con trước khi chính thức về nhà chồng nếu bị phát hiện sẽ bị ném đá đến chết. Không chỉ vậy, họ còn để lại tai tiếng cho gia đình nếu việc đó xảy đến. Do đó, để chấp nhận thi hành ý muốn của Thiên Chúa, Mẹ đã phải phó thác mọi sự trong tay Người.

Mỗi người chúng ta cần phải biết noi gương Mẹ. Dù cuộc sống có nhiều đau thương, khó khăn, dù hiểm nguy luôn rình rập, đe dọa, ta cũng vẫn phải tin tưởng vào sự quan phòng của Chúa. Mọi thánh giá Người để ta vác đều không vượt quá sức của ta, Người biết điều đó và Người tin ta sẽ đủ khả năng gánh vác. Khó khăn, đau khổ là điều không thể thiếu của đời người, quan trọng là ta đối mặt với nó như thế nào. Ta sẽ đầu hàng trước số phận hay vững tin vào Thiên Chúa?

Mẹ Maria là mẫu gương để chúng ta học tập. Mẹ đã tin tưởng và vâng phục suốt cả cuộc đời, đã đồng hành cùng Chúa Giêsu cho đến phút cuối cùng và tiếp tục đồng hành cùng Hội thánh của Người. Do đó, ngoài việc noi gương Mẹ, ta cũng không quên chạy đến với Mẹ trong những giây phút khó khăn của cuộc sống. Tình yêu của Mẹ sẽ chở che và đưa chúng ta đến gần Thiên Chúa hơn. Đặc biệt, ta phải ghi nhớ rằng: tin tưởng và vâng phục là chìa khóa quan trọng cần phải có để ta có thể sống đẹp lòng Chúa.

Lạy Chúa, hôm nay là ngày lễ kính Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội. Xin cho chúng con biết noi gương Mẹ, biết trở nên những người con biết tin tưởng và vâng nghe theo ý muốn của Ngài. Để từ đó, chúng con có thể sống xứng đáng với tình yêu Ngài đã dành cho chúng con. Xin cho chúng con biết can đảm đối mặt với khó khăn, gian khổ và không quên Ngài luôn đồng hành cùng chúng con. Amen.

Petrus Sơn

memorial presentation blessed virgin mary1Dù không được Phúc Âm nhắc đến, nhưng theo truyền thuyết (Tiền Phúc Âm của thánh Giacôbê), từ khi ba tuổi, Đức Mẹ đã được gia đình đưa lên đền thánh để dâng mình cho Thiên Chúa và đã lưu lại đó cho tới lúc trọn tuổi mười hai. Đây là một thói quen đáng kính của các gia đình đạo hạnh và cũng là biến cố đáng ghi nhận trong đời Đức Trinh Nữ Maria. Chả thế mà trong lịch phụng vụ của Giáo Hội đông phương, đã thấy xuất hiện lễ Đức Mẹ Dâng Mình từ thế kỷ VII, và tiếp theo là phụng vụ của Giáo Hội tây phương từ thế kỷ IX. Chính các Đức Giáo Hoàng Sixtô IV năm 1472 và Sixtô V năm 1585 đã cổ võ mừng kính lễ này cách đặc biệt và gần đây, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã xem lễ Đức Mẹ Dâng Mình là một trong những lễ tuyệt diệu và coi đó như hình mẫu của đời dâng hiến. Trong niềm hân hoan, chúng ta nhận diện ý nghĩa biến cố dâng mình trong đời Đức Mẹ.

1. Dâng mình là tìm gặp Thiên Chúa

Theo nhãn giới sách tiên tri Dacaria trong bài đọc một, khi dân Do thái trở về sau cuộc lưu đày, thì đền thờ Giêrusalem không chỉ là không gian biểu thị sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa dân, mà còn là nơi chốn diễn ra cuộc gặp gỡ của Thiên Chúa với mọi tâm hồn đạo đức. Đền thờ không dừng lại trong vai trò là nơi thánh dành cho việc phụng tự, nhưng đã mở ra một tầm vóc mới là địa chỉ của việc tiếp cận. Chính với đền thờ người ta nghiệm rõ hơn phẩm tính của Thiên Chúa là “Đấng vui thích ở giữa dân”, và cũng hiểu thực hơn lý do tại sao dân lại “rộn rã vui mừng khi nghe người người rủ nhau lên đền thờ Chúa”. Thì ra, đền thờ là không gian thánh thiêng đã được Thiên Chúa chọn lựa như nơi hẹn hò cứu độ dành cho con dân của Người. Và vì thế, lên đền thờ Chúa đã vượt quá một nhiệm vụ tôn giáo, dù được quy định bởi luật lệ hẳn hòi, để trở thành một giai đoạn vinh dự đời người và niềm tự hào cho cả dân tộc.

Khi Đức Maria ở tuổi lên ba được cha mẹ là ông Gioakim và bà Anna dẫn lên đền thánh Giêrusalem để dâng mình cho Chúa, thì về mặt tự nhiên chắc chắn chỉ là việc chu toàn phận vụ đạo đức theo thói quen tôn giáo. Ba tuổi cứ bình thường chưa phải là tuổi đã khôn, nếu không muốn nói là còn ngây thơ đơn sơ dại khờ. Nhưng về mặt quan phòng còn có ý nghĩa lớn lao hơn, đây là một việc tuyệt diệu Đức Mẹ thực hiện trong tuổi thơ đời mình nhằm gặp gỡ Thiên Chúa. Tất nhiên Thiên Chúa là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời đất, có mặt ở khắp nơi, không nơi nào dù là đạo hay đời mà không có sự hiện diện của Người, nhưng có một nơi Người chắc chắn hiện diện thường xuyên, đó là nhà của Người chính là đền thờ. Vì thế, biến cố lên đền đã sớm mang lấy ý nghĩa tích cực và đích thực: Đức Mẹ dâng mình vào nhà của Chúa là để được thường xuyên gặp gỡ Chúa và hạnh phúc sống dưới mái nhà và dưới ánh nhìn trìu mến của Chúa.

2. Dâng mình là tìm biết và làm theo thánh ý

Theo nhãn giới của bài Phúc Âm trích đọc, khi Chúa Giêsu chỉ các môn đệ và giới thiệu “Mẹ và anh em Ta là những kẻ làm theo thánh ý”, chính là lúc Người khai mở một gia đình mới, không dựa trên huyết thống, cũng không giới hạn nơi các thành viên một dòng họ hoặc dừng lại trong một chi tộc, ngôn ngữ, mà bao gồm tất cả mọi người, miễn là biết nhận biết và thực thi thánh ý. Nếu toàn bộ lời giảng của Chúa Giêsu được gọi là Tin Mừng thì lời giới thiệu “Mẹ và anh em” này phải được xem như một khía cạnh reo vui hiện thực nhất của Tin Mừng ấy. Ai cũng có khả năng trở thành người nhà của Chúa Giêsu, ai cũng có điều kiện để hội nhập vào trong gia đình thánh, và ai cũng có thể trở nên anh chị em gần gũi với Người. Chúa Con đã xuống thế làm người theo ý Chúa Cha, và đã chịu khổ nạn vì tội lỗi nhân loại cũng để vuông tròn thánh ý. Những ai hôm nay làm theo thánh ý như Chúa Giêsu, họ cũng đang trở thành anh em của Người.

Người ta không biết chính xác những việc cụ thể Đức Mẹ đã làm trong suốt tuổi thơ lưu lại đền thánh, có thể là việc trực tiếp như câu kinh tiếng hát sớm tối phượng thờ, cũng có thể là việc gián tiếp như phục vụ dọn dẹp trang hoàng đền thánh, và chắc không thiếu những việc không tên theo yêu cầu của các chức sắc tôn giáo hay theo nhu cầu của nghi lễ hằng ngày. Ăn cơm Chúa múa tối ngày. Ở trong nhà Chúa thì phải làm việc của Chúa, đương nhiên, nhưng chắc chắn có một việc mà Đức Mẹ hằng ngày vẫn canh cánh “trí suy, miệng nói, mình làm”, đó là để tâm đi tìm thánh ý và một khi đã biết thì nỗ lực thực thi. Chúa muốn Mẹ làm gì? Ý Chúa về đời Mẹ ra sao? Lễ dâng nào từng ngày cho Chúa? Tuổi thơ bé gái khác có thể vô tư với trò chơi đồ hàng hay gương lược, nhưng tuổi thơ Đức Maria nơi đền thánh lại là đánh chuyền với thánh ý và đánh chắt với việc làm cho thánh ý được thể hiện trong cả đời mình.

3. Dâng mình còn là tìm hun đúc cho sứ mệnh tương lai

Mới đây, dịp cô bé Phương Mỹ Chi trúng giải “Á quân giọng hát Việt nhí 2013” với hợp đồng trình diễn đó đây, báo chí đã coi đó như là “gặt lúa non” và cảnh báo cho biết bí quyết thành công bền lâu dưới ánh đèn sân khấu tỷ lệ thuận với những khổ luyện miệt mài trong bóng tối hậu trường. Một tác giả đạo đức phác vẽ kết quả của mỗi công trình thiêng liêng bằng một công thức ấn tượng là “50% ơn Chúa và 50% nỗ lực con người”. Theo quan điểm này, biến cố Đức Mẹ dâng mình và sống âm thầm trong đền thờ chính là thời gian Mẹ tận hiến cho một điều cao cả hơn và trọng đại hơn; có thể hình dung như giai đoạn chuẩn bị với những kỹ năng và hành trang cần thiết, để sẵn sàng đón nhận nhiệm vụ sẽ được Thiên Chúa trao gửi trong tương lai. Ngày đến đền thờ Mẹ còn là cô bé lớp chồi, nhưng ngày rời đền thờ Mẹ đã thành thiếu nữ Sion đẹp xinh không chỉ “nhất tóc, nhì da, thứ ba là dáng”, mà còn sực nức thơm hương nhân đức.

Chỉ cần nhìn vào biến cố Truyền Tin khi Đức Maria vâng theo ý Chúa, người ta cũng thấy đầy đủ những yếu tố cho phép hiểu rằng việc dâng mình của Mẹ trong đền thờ không đơn thuần là việc đạo đức, mà còn là công trình quan phòng nhằm chuẩn bị xa gần cho mùa cứu rỗi. Từ thái độ bối rối khi nghe lời sứ thần đề nghị biểu lộ sự ý thức của Mẹ, đến câu hỏi xin sứ thần giải thích cho thấy Mẹ hoàn toàn tự do, và đến khi đáp tiếng “xin vâng” thì Mẹ đã thể hiện lễ dâng đời mình bằng cả trách nhiệm cao độ. Ngày nay, ở lứa tuổi mầm chồi, các phụ huynh đã chẳng lo cho con em mình vào những trường tốt, mong có được căn bản làm người và kiến thức cần thiết cho lớp học cao hơn đó sao? Tương tự như thế, Đức Mẹ dâng mình lúc tuổi còn thơ cũng là rèn luyện cho nghĩa vụ là “tôi tá” và cho sứ vụ làm “Mẹ Đấng Cứu Thế” sau này.

Tóm lại, tìm gặp Thiên Chúa, tìm theo thánh ý Người và tìm hun đúc cho sứ mệnh tương lai chính là ý nghĩa của biến cố Đức Mẹ dâng mình. Sống lại tâm tình ấy, ta hãy nỗ lực sống đẹp cuộc đời hiện tại như lễ dâng tạ ơn và cũng như lễ dâng tạ tội. Xin nhờ lời chuyển cầu của Đức Mẹ cho lễ dâng đời ta được thanh tẩy và thánh hóa, mong đẹp lòng Thiên Chúa nhiều hơn. Nếu Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã xếp dáng dấp trinh nữ hiến dâng sau khi nêu lên ba dáng dấp lắng nghe, cầu nguyện và hạ sinh của Đức Maria, thì chỉ muốn khắc họa cho thấy việc dâng mình là nền tảng giúp Đức Mẹ có được động thái tương hợp trong nhịp sống thánh hiến. Xin cho những người sống đời thánh hiến gặp được nơi Đức Mẹ mẫu gương tích cực và xin Đức Mẹ cũng giúp ơn cần thiết để mọi người gặp được bình an với lễ dâng cuộc sống còn lắm khó khăn.

 

ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống

Holy RosaryChiều qua ghé mừng bổn mạng Phanxicô Khó Khăn của một người bạn là cha của một gia đình một vợ ba con. Đúng lúc gia đình vừa đi lễ về. Đang khi tay bắt mặt mừng, đứa gái út đã nhanh nhẩu chỉ cho tôi chiếc áo mới màu xanh nước biển đang mặc và khoe rằng hôm nay nó là Việt kiều Úc Châu đấy. Tôi còn chưa hiểu ất giáp gì thì nó đã liến thoắng đố tôi hôm nay trong gia đình nó có gì lạ. Tôi đảo mắt nhìn một vòng nhưng chẳng thấy có gì khác nên đành chịu. Con bé lí lắc đã chẳng giữ kín được câu đố của mình nên đã nhanh chóng bật mí cho tôi. Nó nói: gia đình nó hôm nay mỗi người mặc một màu áo: bố màu trắng người Châu Âu, mẹ màu vàng người Châu Á, chị hai màu đỏ người Châu Mỹ, còn anh ba màu xanh lá người Châu Phi. Cả gia đình là năm châu, là thế giới.

Thấy tôi vẫn ngẩn người chưa hiểu, anh bạn tôi đã phải giải thích: chả là vào tháng Mân Côi, má xấp nhỏ muốn làm một chuỗi kinh sống trong gia đình nên phân bổ mỗi người mỗi ngày đọc một chục, năm người thành năm chục, năm chục năm màu năm châu là sáng kiến của Đức Giám Mục Fulton Sheen đã lâu ở bên Mỹ, còn năm màu áo minh họa là sáng kiến của con út nhà này. Con bé đỏ mặt hãnh diện, mọi người cười vui. Và khởi đi từ niềm vui ấy, tôi miên man suy nghĩ: Kinh Mân Côi là lời kinh kết nối.

1) Kết nối với Đức Maria.

Bởi Kinh Kính Mừng là nối kết lời thiên thần Gabriel chào Đức Maria trong buổi Truyền Tin với lời mừng của bà Êlisabet trong ngày Thăm Viếng, nên mỗi lần được lặp lại đã trở thành lời chào mừng chính thức cho sự kết nối giữa con người với Đức Maria.

Sự kết nối ấy là kết nối với một cá nhân khi đối diện với mầu nhiệm của Thiên Chúa chỉ dám nhận mình là một tôi tớ, nhưng đã được cất nhắc lên vinh quang làm Mẹ Thiên Chúa. Đó là một dung hòa tuyệt hảo giữa một đàng là hồng ân của Thiên Chúa và đàng khác là nỗ lực của con người, nghĩa là nơi Đức Maria, người ta hiểu rằng tất cả khởi đi từ ơn phúc Chúa ban nhưng còn ở trong tình trạng tiềm ẩn, chỉ đến khi có sự đáp trả cộng tác bằng lời “xin vâng” thì ơn phúc kia mới lộ hiện.

Nhưng “xin vâng” không chỉ bằng lời mà là bằng cả một đời đánh đổi: vừa bền lòng thực thi ý Chúa, vừa bền chí chấp nhận những thử thách cam go vốn không thiếu trên hành trình đức tin bên cạnh Chúa Giêsu.

Sự kết nối ấy là một sự “nối mạng”, nghĩa là kết nối vào một vận mạng. Đức Maria trong vinh quang hiện tại không những không xa cách mà còn gần gũi nhân loại hơn cả bao giờ. Mẹ là Mẹ Thiên Chúa đã nên Mẹ Giáo Hội để qua Kinh Kính Mừng, một tâm tình hiệp thông gắn bó nảy sinh, rất linh động như dòng chảy hai chiều đi đi về về giữa Đức Maria xuống với con người và giữa con người lên với Đức Maria, rất tự nhiên như tình mẫu tử, đằm thắm khi yên ổn nhưng cũng đầy trách nhiệm những khi kêu cầu.

2) Kết nối với Chúa Giêsu.

Nếu đối tượng trực tiếp của Kinh Mân Côi là kết nối với Đức Maria qua những chặng đường mầu nhiệm đời Mẹ, thì hành trình cùng với Mẹ, từng bước, người ta sẽ được dẫn tới đích điểm là kết nối với Chúa Giêsu.

Có một điều ngạc nhiên đến thú vị là nếu có ai hỏi ta Đức Maria có lần hạt không, ta sẽ trả lời khẳng định: Đức Maria cũng lần hạt. Hiện ra ở Lộ Đức hoặc ở Fatima, Mẹ đều lần hạt với con cái mình. Điều này cho thấy người ta không chỉ lần hạt kết nối với Mẹ nhưng còn cùng với Mẹ lần hạt kết nối với Chúa Giêsu nữa.

Chính kết cấu của Kinh Kính Mừng cũng muốn nói lên điều ấy. Trong Kinh Kính Mừng chỉ có hai danh xưng Maria và Giêsu được xướng lên, mở đầu bằng Maria và kết thúc bằng Giêsu: “Kính mừng Maria đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng Bà, Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ và Giêsu con lòng Bà gồm phúc lạ”, nghĩa là kết nối với Mẹ để được nối kết với Con của Mẹ, kết nối với Đức Maria để rồi nối kết với Chúa Giêsu. Qua Mẹ Maria đến với Chúa Giêsu.

Nhưng kết nối với Chúa Giêsu được thấy rõ nhất là qua những mầu nhiệm Mân Côi mùa Vui, Thương, Mừng như cách gọi truyền thống: Vui trong mầu nhiệm Nhập Thể Đức Giêsu xuống thế làm người sống cho mọi người; Thương trong mầu nhiệm Tử Nạn Đức Giêsu chịu chết chuộc tội cho cả nhân loại và Mừng trong mầu nhiệm Phục Sinh Đức Giêsu bước vào vinh quang mở ra tương lai cho mọi sinh linh.

Đây là sự kết nối nền tảng và là đỉnh cao. Thiếu nó, kết nối với Đức Maria dẫu có vẫn còn lỏng lẻo, chưa có nó kết nối dẫu đậm đà vẫn chưa vươn tới đẫy đà cần thiết.

3) Kết nối với mọi người trong Chúa Kitô nhờ lời chuyển cầu của Mẹ Maria.

Thực ra đây là hệ lụy tất nhiên của hai mối kết nối nói trên. Một khi liên đới với Đức Maria để hiệp thông với Đức Kitô, tất nhiên mọi người là anh chị em hiệp thông với nhau, nhưng chính ở đây lại mở ra một nhãn giới đầy lạc quan tin tưởng hy vọng cho tất cả những ai lần hạt Mân Côi.

Với Kinh Mân Côi, tín hữu nhận biết người Ấn Độ là anh em của mình, người Châu Âu sung túc cũng nhận ra người Somali đói nghèo là chi thể của mình, người Kinh cảm nhận hơn nữa người Thượng gần gũi với mình. Tại sao ta lần hạt ở nhà thờ, gia đình, trên đường......? Tại sao ai cũng lần hạt được, từ giáo sĩ đến giáo dân, từ trí thức đến nông dân, từ em thơ đến các cụ? Thưa bởi vì Kinh Mân Côi bình đẳng phổ cập, chẳng những phù hợp với mọi người mà còn củng cố hiệp thông với mọi người. Buồn hay vui người ta đều lần hạt, đám cưới thì lần hạt xin hạnh phúc đời này, còn đám tang thì lần hạt xin hạnh phúc đời sau.

Nếu Kinh Mân Côi có được xem là vũ khí thì vũ khí ấy lại là tình thương san sẻ có sức mạnh gắn hàn liên kết hiệp thông. Bằng Kinh Mân Côi, người ta san sẻ cho nhau sứ điệp Tin Mừng như lễ Mân Côi hôm nay theo lịch sử là ghi dấu chiến thắng Lépante năm 1571 giữa Hồi Giáo và Công Giáo, nhưng theo tinh thần lại là ghi dấu một sức mạnh khi mọi người hiệp thông trong Kinh Mân Côi.

Trình bày Kinh Mân Côi là lời kinh kết nối không có tham vọng đem lại cái gì mới mà chỉ muốn lặp lại ý muốn của Đức Maria và Giáo Hội ở một hòa âm mới hơn trong mối hiệp thông. Để với những ai đã quen lần hạt hằng ngày, xin được kiên trì. Kinh Mân Côi giúp nối mạng tâm linh cho tâm tình bộc bạch thành tâm sự dễ dàng, nhanh chóng. Kinh Mân Côi còn là người bạn chân tình, dễ tính, trung thành luôn sẵn sàng hiện diện mọi lúc, mọi nơi.

Một lần làm phép xâu chuỗi cho bà cụ và cô gái, thấy họ kính cẩn trong cách trao và nhận, tôi chỉ vào túi mình và nói với hai người: tôi cũng có chuỗi kinh. Tất cả đều cười vui. Mong rằng không chỉ có chuỗi kinh để lần hạt chu toàn nhiệm vụ, mà còn có chuỗi kinh biết hiệp thông nối kết với nhau và cầu nguyện cho nhau.

GM. Giuse Vũ Duy Thống

Our Lady of Sorrows“Đời là bể khổ”. Hầu như đó là câu nói cửa miệng của chúng ta. Sinh ra là sự kiện vui mừng mà ai cũng khóc, không ai cười. Đứa trẻ khóc thì thân nhân cảm thấy vui, an tâm, vì đứa trẻ không khóc là “có vấn đề”, thân nhân không vui và... quan ngại lắm!

Đối với chúng ta, những người con của Chúa, cũng không thể tránh được những đau khổ trong cuộc đời mình, có những nỗi đau khổ như lưỡi gươm đâm thấu tâm hồn, vì chính Đức Kitô cũng đã phải qua đau khổ mới tới vinh quang và Ngài còn mệnh danh là “Người Tôi Tớ Đau Khổ”.

Vâng, Ngài không chỉ là người tôi tớ bình thường mà là người-tôi-tớ-đau-khổ!

ĐAU KHỔ CỦA ĐỨC MẸ

Đức Mẹ là người đồng cam cộng khổ với Con Trai Giêsu suốt đời. Ông già Simêôn đã nói tiên tri: “Một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn chị” (Lc 2:35). Quả thật, cuộc đời Đức Mẹ là bản hùng ca Liên khúc Đau khổ, vì đau khổ này chồng lên đau khổ khác, nhưng Đức Mẹ vẫn một lòng chịu đau khổ mà không nửa lời than trách, chỉ “im lặng và suy niệm trong lòng”, vì thế mà Đức Mẹ được trở thành người đồng công cứu chuộc.

Ngay khi thụ thai đã bị người ta chê trách vì “không chồng mà chửa”. Đến ngày khai hoa mãn nguyệt thì lại bị người ta hất hủi, không có chỗ trọ nên đành ra hang chiên lừa hôi tanh ngoài cánh đồng tăm tối. Sinh con chưa được bao lâu lại phải chạy trốn sang Ai Cập vì vua Hê-rô-đê lùng sục để giết Con Trẻ. Rồi Đức Mẹ lại lạc mất con, có người mẹ nào có thể bình thản khi lạc mất con như vậy?

Tưởng đã yên ổn, nhưng một thời gian sau, Đức Mẹ lại phải chứng kiến Con Trai vác Thập giá, thấy Con thương tích đầy mình và té lên té xuống, đau khổ tột đỉnh là khi Đức Mẹ đứng chết lặng nhìn Con hấp hối trên Thập giá. Tiếp theo là chờ hạ xác Con, và cuối cùng là táng xác Con.

Những “lưỡi gươm” liên tục đâm thâu lòng Ðức Mẹ, nhưng Đức Mẹ vẫn âm thầm chịu đựng. Cuộc đời Đức Mẹ được dệt bằng “những sợi đau khổ” để thành “tấm thảm đau khổ”. Quả thật, Đức Mẹ đã tử đạo nhiều lần trong đời! Chắc hẳn chúng ta không thể nào cảm nhận hết nỗi đau khổ xé lòng mà Đức Mẹ đã chịu.

Danh họa Michelangelo Buonarroti (Ý, 6/3/1475–18/2/1564) có tác phẩm điêu khắc Pietà (1498–1499, kích cỡ 174 cm × 195 cm) nổi tiếng, bằng cẩm thạch, được đặt tại Đền thờ Thánh Phêrô. Theo tiếng Ý, Pietà nghĩa là “đau xót” hoặc “thương xót”, diễn tả nỗi đau khổ của Đức Mẹ.

Kiệt tác này vừa có giá trị nghệ thuật vừa có giá trị tinh thần, vì chính kiệt tác này có thể giúp chúng ta nhớ đến nỗi đau khổ của Đức Mẹ mà cố gắng vui chịu những đau khổ triền miên trên bước lữ hành trần gian này.

Đức Mẹ không chỉ đau khổ vì thương Con mình, mà còn đau khổ vì nhân loại, vì muốn cứu độ chúng ta. Đức Mẹ đau khổ vì tình yêu sâu thẳm dành cho nhân loại, biết rõ sự cần thiết của ơn cứu độ, vì: “Nếu người ta được cả thế gian, mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình?” (Mt 16:26).

ĐAU KHỔ CỦA CHÚNG TA

Không ai thích đau khổ, nhưng dù muốn hay không thì đau khổ vẫn xuất hiện và luôn là điều bí ẩn. Xưa nay người ta không ngừng lý giải đau khổ nhưng vẫn không thể nào tìm ra đáp án. Cố học giả LM Thiên Phong Bửu Dưỡng (Dòng Đa Minh) đã viết một cuốn sách dày vài trăm trang có tựa đề là “Ý Nghĩa Sự Đau Khổ”. Đó là một cách lý giải đau khổ để con người khả dĩ chấp nhận đau khổ và dùng nó làm bàn đạp để can đảm sống – theo kiểu nói ngày nay là “sống chung với lũ”.

Chúa Giêsu đã đến thế gian không để diệt trừ đau khổ mà để chia sẻ đau khổ với nhân loại, và Ngài “không đến để được phục vụ nhưng để phục vụ” (Mt 20:28). Phục vụ thì phải vất vả, vất vả là một dạng đau khổ.

Cuộc sống nhiêu khê, có lúc chúng ta tưởng như hoàn toàn bế tắc. Ai cũng có nhiều trăn trở, và chắc hẳn cũng có lúc chúng ta phải thốt lên: “Tôi vất vả luống công, phí sức mà chẳng được gì” (Is 49:4).

Đó là điều rất ư bình thường ở đời. Chúa Giêsu đã báo trước: “Tôi tớ không lớn hơn chủ nhà. Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em. Nếu họ đã tuân giữ lời Thầy, họ cũng sẽ tuân giữ lời anh em” (Ga 15:20). Nghĩa là chúng ta cũng phải gặp nhiều thứ đau khổ, đủ kiểu đau khổ, đủ cỡ đau khổ: “Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí”.

Chúa Giêsu vẫn thường nhắc nhở: “Ai có tai thì nghe” (Mt 11:15; Mt 13:9; Mt 13:43). Ai lại không có tai? Có tai sao lại không nghe? Vậy mà rất nhiều người trong chúng ta có tai mà vẫn không nghe! Nghe cho biết hoặc nghe cho vui tai thì cũng như không nghe, không lắng nghe thì không thể hiểu, không hiểu thì không muốn hành động, không đủ sức chịu đựng.

Chúng ta phải cố gắng có ý ngay lành đối với những đau khổ thường nhật. Chịu những đau khổ là noi gương Chúa, muốn làm chứng về tình yêu của Thiên Chúa, về Lòng Thương Xót của Chúa, như thánh Phaolô nói: “Tình yêu Chúa Kitô thúc đẩy chúng tôi” (2 Cr 5:14).

Chấp nhận đau khổ không chỉ ích lợi cho chính mình mà còn có thể cứu độ người khác, cứu độ các linh hồn. Nếu chúng ta muốn vào Nước Trời mà không kéo người khác cùng vào là chúng ta ích kỷ.

Để được như vậy, hằng ngày chúng ta dâng mọi thứ đau khổ của ta cho Đức Mẹ sầu bi, xin những đau khổ của Mẹ thanh luyện những đau khổ của ta. Bởi vì rất nhiều đau khổ của ta phát xuất từ tính kiêu ngạo, ghen tương, ham hố và ích kỷ muốn theo ý riêng mình.

Chúng ta thường có xu hướng quy trách người khác khi chúng ta gặp đau khổ, như chúng ta thường có kiểu nói: “Vì..., tại..., bởi..., nếu..., giá mà...”. Nếu quy trách người khác thì chúng ta lỗi đức ái, thiếu khiêm nhường. Thánh Tiến sĩ Augustinô có 3 lời khuyên này:

1. Đừng tự coi mình là quan toà xét xử người khác.

2. Xét đoán tội người khác thì phải khiêm tốn và tôn trọng sự thật. Rất nhiều lần chúng ta đổ cho người khác những lỗi lầm mà người ta thực sự không có.

3. Nếu người ta có tội, nên chấp nhận rằng người ta có thể cũng có nhiều công phúc, vừa công khai vừa âm thầm.

Lịch sử đạo và đời đều có những người can đảm chịu đựng đau khổ khiến chúng ta phải khâm phục. Chính thánh GH Gioan Phaolô II được mệnh danh là một “Nhân chứng Đau khổ”.

Nhân chứng Đau khổ vĩ đại nhất là Đức Mẹ. Người là Hiền Mẫu của chúng ta, chắc chắn Người cũng luôn đồng hành với chúng ta. Hãy cứ “nhõng nhẽo” với Mẹ để những đau khổ của Mẹ làm cho những đau khổ của chúng ta trở nên Nỗi-Đau-Ngọt-Ngào và chúng ta đủ sức “chơi” Thú-Đau-Thương cho đến khi trút hơi thở cuối cùng.

Khi sinh ra, chúng ta đã khóc và mọi người đã cười, nhưng chúng ta phải cố gắng sống sao cho lúc chúng ta giã từ cõi đời này, chúng ta an tâm mỉm cười mà người ta phải khóc vì thương tiếc.

TRẦM THIÊN THU

MaryMỗi người đều có ngày sinh nhật, ngày chào đời, ngày ghi dấu giây phút một con người thực sự được “có mặt trên đời”. Đây là ngày mà người ta nhớ đến như một kỷ niệm, mốc thời gian đáng nhớ, bắt đầu cho một cuộc đời mới của một con người trên trần gian.

Trong Giáo Hội, ngoài lễ mừng Sinh Nhật Chúa Giê-su Ki-tô, việc mừng kính sinh nhật Đức Ma-ri-a chứng tỏ Mẹ là thụ tạo số một, trong chương trình Cứu Độ của Thiên Chúa.

Ngày lễ Sinh nhật Đức Trinh nữ gắn liền với việc cung hiến mộït Đền thờ được xây cât tại Giêrusalem vào thế kỷ thứ V, nơi theo truyền thống cho là nhà của ông Gioan Kim và bà Anna, gần nơi hồ tắm Bethzatha (Ga 5,1-9). Tức là nơi các tín hữu cho là nhà Đức Mẹ được sinh ra. Từ thế kỷ thứ XII, ngôi đền thờ được gọi là Đền thờ thánh Anna, rồi sau đó được dâng kính cho ngày Sinh nhật của Đức Maria.

Lễ Sinh nhật Đức Trinh nữ được bắt nguồn bên Đông phương ở thế kỷ thứ VI và được Đứùc Giáo Hoàng Serge I đưa vào cử hành tại Rôma, với cuộc rước kiệu đi từ thánh đường thánh Adrien gần Forum đi đến Đền Đức Bà Cả.

Ý lễ được lấy ra từ các Ngụy Thư như Tiền Tin Mừng thánh Giacôbê, Tin Mừng của Mátthêu mạo danh, và Tin Mừng về cuộc sinh hạ của Đứùc Maria mà người ta gán cho thánh Jérôme là tác giả.

Bên Đông phương lễ Sinh nhật Đức Trinh nữ được cử hành đầu tháng 9 khai mạc năm Phụng vụ. Tại Rôma, lễ được cử hành dưới thời Giáo Hoàng Octave IV vào năm 1243 với tuần Bát nhật; rồi sau đó Đức Giáo Hoàng Grégoire XI còn thêm vào đêm Canh thúc vào năm 1378.

Mẹ Maria đã làm loé lên niềm hy vọng cho một trần gian đang lầm lỗi. Mẹ đã điểm tô cho một lịch sử đã bị ông bà nguyên tổ làm lu mờ vì tội phản nghịch cùng Thiên Chúa. Mẹ Maria đã làm cho lịch sử hồi sinh khi ông bà nguyên tổ làm hoen ố vì tội lỗi. Nhân loại đáng lẽ bị đắm chìm trong sự chết, nhưng Mẹ đã làm cho có sự sống viên mãn.

Hình ảnh bốn phụ nữ được Kinh Thánh nói đến như là một tiên báo cách kín đáo về Đức Kitô, Đấng sẽ đến để cứu độ những người tội lỗi, và đón nhận mọi dân mọi nước vào vương quốc của Người. Việc tuyển chọn những nhân vật này không phải là điều đáng tự hào vì lý lịch của họ. Nhưng tiêu chuẩn của Thiên Chúa khác với con người. Người chọn sự yếu kém để nói lên lượng từ bi của Người.

Đây là "gia phả của đức tin và ân sủng". Vì cho dẫu gia phả này được đan dệt bằng biết bao tội nhân và những kẻ gian ác, nhưng lịch sử ấy lại là lịch sử của tình thương và lòng thương xót Chúa, được chính Thiên Chúa can thiệp đúng lúc. Thiên Chúa đã viết lịch sử ấy bằng những nét đặc biệt, khác thường. Cái đặc biệt nhất vẫn là Thiên Chúa đã không bỏ rơi một nhân loại phản bội lại Ngài, không làm ngơ trước sự đau khổ và tội lỗi của con người. Thiên Chúa đã hành xử thật tốt đẹp với con người, đối với từng người. Chính vì một lịch sử, một thế giới tội lỗi mà Mẹ Maria đã sinh ra để cưu mang Chúa Giêsu Đấng cứu độ chúng ta.

Ngày sinh nhật của Mẹ đã khai mở lời hứa của Thiên Chúa bước đầu thành sự, đồng thời, Mẹ là Nữ Tử Sion, là hy vọng của nhân loại. Mẹ ra đời để làm Mẹ Đấng Cứu Thế. Có cuộc sinh nhật của Mẹ, mới có sự ra đời của Đức Giêsu, có Đức Giêsu mới có Đấng cứu độ chúng ta. Như vậy, ngày sinh nhật của Mẹ đã được đặt vào Mầu Nhiệm Nhập Thể, cứu độ. Mẹ như Sao mai dẫn lối đưa đường, Mẹ chính là hừng đông, là ánh bình minh báo trước Mặt trời công chính là Đức Kitô.

Trình thuật về gốc tích Đức Giê-su Ki-tô hôm nay kể lại một việc vô cùng lớn lao, Thiên Chúa đã thực hiện nơi Đức Ma-ri-a, một thụ tạo tuyệt vời, nhưng chỉ coi mình là nữ tỳ hèn mọn được Chúa đoái thương nhìn tới. Mẹ được thụ thai và cưu mang Đấng Cứu Thế do quyền năng Chúa Thánh Thần, chuyện lạ lùng số một trong lịch sử nhân loại. Mẹ sinh con mà vẫn đồng trinh trọn đời. Mẹ là người mà ngôn sứ Mi-kha nhắc đến trong lịch sử: “Vì thế, Đức Chúa sẽ bỏ mặc Ít-ra-en cho đến thời một phụ nữ sinh con.” Trong tình yêu mến, Mẹ luôn “xin vâng”, phó thác để tình yêu Chúa chiếm đoạt, để Thiên Chúa thực hiện thánh ý và chúc phúc cho Mẹ. Thánh Phao-lô khẳng định với tín hữu thành Rô-ma: “Chúng ta biết rằng: Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người, tức là cho những kẻ được Người kêu gọi theo như ý Người định. Vì những ai Người đã biết từ trước, thì Người đã tiền định cho họ nên đồng hình đồng dạng với Con của Người... Những ai Thiên Chúa đã tiền định, thì Người cũng kêu gọi; những ai Người đã kêu gọi, thì Người cũng làm cho nên công chính; những ai Người đã làm cho nên công chính, thì Người cũng cho hưởng phúc vinh quang.”

Vì thế trong ngày Đức Maria chào đời Giáo hội đã kêu lên : "Ôi lạy Mẹ! Ngày sinh của Mẹ đã đem lại cho thế giới sứ điệp vui mừng và hy vọng. Vì Đức Kitô Chúa chúng con là Mặt trời soi đường nay nẻo chính đã từ cung lòng Mẹ sinh ra, Ngài là Đấng huỷ bỏ lời chúc dữ, đem lại muôn phúc lành, Đấng tiêu diệt thần chết và ban phúc trường sinh".

Thiên Chúa chuẩn bị chương trình Cứu Độ của Ngài thật kỹ lưỡng trong dòng lịch sử, với thời gian rất ư lâu dài. Thánh sử Mát-thêu ghi lại bản gia phả của Đức Giê-su, từ Tổ phụ Ap-ra-ham cho đến thánh Giu-se, người đã đính hôn với Mẹ của Đức Ki-tô, trải qua mười bốn đời với thời cực thịnh, mười bốn đời với thời lưu đày suy vong và mười bốn đời sau thời lưu đày ở Ba-by-lon. Đức Giê-su xuất thân từ dòng tộc con người. Nhưng cuối bản gia phả lại nói lên Thiên Tính của Ngài. “Gia-cóp sinh Giu-se, chồng của bà Ma-ri-a, bà là mẹ Đức Giê-sucũng gọi là Đấng Ki-tô.” Đức Trinh Nữ Ma-ri-a thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần, do quyền năng Thiên Chúa. Ở đây thêm xác nhận Đức Giê-su có nguồn gốc từ Thần Linh và là Thiên Chúa thật. Ngài là Thiên Chúa nhập thể trong cuộc đời, là một con người thực sự qua dòng thời gian, lịch sử ghi nhận rõ ràng.

Khi thuật lại gia phả Đức Giêsu, Thánh Kinh muốn nhấn mạnh đến mối liên hệ giữa loài người từ thời A-đam đến Chúa Ki-tô. Nếu vì liên đới với A-đam và chịu hậu quả bởi tội của A-đam, thì nay, trong Đức Ki-tô, dòng dõi con người cho đến ngày tận thế được ban phúc trở nên dòng dõi các kẻ tin, dòng dõi được Chúa chọn. Hiểu như thế, Mẹ Ma-ri-a không khỏi vui mừng hân hoan, vì Mẹ được thuộc về dòng dõi Đức Ki-tô.

Ngày Mẹ Ma-ri-a chào đời, nhân loại đón nhận món quà tuyệt vời Thiên Chúa tặng ban: bé gái này rồi sẽ là Mẹ Đấng Cứu Thế, mẹ Ngôi Hai Thiên Chúa nhập thể làm người. Vì thế, Thiên Chúa đã dự liệu cho Con của mình một người mẹ đặc biệt: ngay từ giây phút đầu tiên trong lòng bà thánh An-na, Đức Ma-ri-a đã được gìn giữ khỏi vết nhơ của tội nguyên tổ để rồi nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần, Mẹ sẽ mang thai, sinh hạ Đấng Cứu Thế. Nhờ được “Thiên Chúa ở cùng”, Mẹ được “đầy ơn phúc”, được diễm phúc hơn mọi phụ nữ. Thánh Bo-na-ven-tu-ra xác quyết: “Thiên Chúa có thể tạo dựng một thế giới khác tốt đẹp hơn, nhưng không thể tạo dựng một người mẹ khác hoàn hảo hơn Mẹ Thiên Chúa được.”

Ngày nay Mẹ Ma-ri-a đang ở trên trời nhưng tình Mẹ, ân phúc của Mẹ, dấu ấn của Mẹ vẫn còn đó trên hành trình của tất cả những người con đang còn ở dương thế. Chúa Giê-su đã trao ban Mẹ cho nhân loại chúng ta.Mỗi người chúng ta hãy chạy đến với Mẹ và thưa: cảm ơn Mẹ luôn đồng hành với con trong cuộc đời. Cảm tạ Mẹ đã bảo bọc che chở, quan tâm đến cuộc đời con. Cảm ơn Mẹ đã nhận con là con của Mẹ để tình Mẹ tiếp tục đong đầy trên hành trình cuộc đời con.

Hôm nay là lễ sinh nhật Đức Maria, Mẹ Đức Giêsu và là Mẹ chúng ta, chúng ta cùng nhau chúc mừng tuổi Mẹ. Ngày này phải là ngày vui chung của toàn thế giới, chứ không phải riêng cho một dân tộc hay một nhóm người nào. Bởi ngày sinh của Mẹ có liên quan trực tiếp đến biến cố Ngôi Lời Nhập Thể. Ngày Mẹ chào đời đánh dấu sự nối kết giữa Tân ước và Cựu ước, chấm dứt thời kỳ chờ đợi và những lời hứa, khai mở một thời kỳ mớ.

 Huệ Minh