NamThanhLongThuongXot

Từ Điển Thuật Ngữ Báo Chí Công Giáo: Profession Of Faith - Pyx
Nguyễn Trọng Đa

Profession Of Faith
Tuyên xưng đức tin. Là chấp nhận công khai các giáo huấn của Giáo hội. Khi sự không tuyên xưng có thể dẫn đến chối bỏ đức tin, người Công giáo đã rửa tội phải tuyên xưng đức tin của mình. Trong một số trường hợp, các Giám mục và Linh mục được yêu cầu thực hiện sự tuyên xưng chính thức đức tin theo giáo luật.

Pro Forma
Pro Forma, ước lệ. Như là vấn đề hình thức; như là phải làm theo qui định của Giáo hội.
Prohibitive Impediment
Ngăn trở cấm chế. Là một điều kiện, hoàn cảnh, hoặc tình hình làm cho một hành vi sai lầm về luân lý nhưng lại có hiệu lực, với hiệu quả thay đổi theo qui định của dân luật hay giáo luật. Do đó bí tích thêm sức, khi một người nhận lãnh trong tình trạng đang có tội trọng, thì vẫn lãnh nhận một cách hiệu lực cùng với ấn tích, nhưng ân sủng không được ban cho người ấy cho đến khi người ấy đã giao hòa với Chúa.

Prolonged Abstinence
Tuyệt thực lâu ngày. Là hiện tượng sống một cách lạ lùng sau khi không ăn trong nhiều năm. Hiện tượng này thường liên quan đến những người mang các dấu thánh, sống lâu dài mà không ăn gì ngòai Rước Mình Thánh Chúa mà thôi. Chẳng hạn Angela ở Foligno (Ý) sống khỏe 12 năm mà không hề ăn, thánh Catarina thành Siena sống tám năm, Elisabeth thành Reute sống 15 năm, Lidwina sống 28 năm, và Catherina Racconigi sống 10 năm. Trong số các điều kiện Giáo hội xem xét trong việc xác minh hiện tượng là siêu nhiên có sự theo dõi người ấy liên tục trong một thời gian dài, có nhiều người chứng để có thể phát hiện một gian lận nào đó. Những người kiểm tra phải xác định liệu sự kiêng ăn là tuyệt đối hay không, về thức uống cũng như thức ăn, liệu sự tuyệt thực có bị phá vỡ hay không, và liệu cá nhân có tiếp tục tham gia các công việc thường ngày hay không.

Promise
Lời hứa, hứa hẹn. Là một tuyên bố nói với Chúa hay với người khác rằng mình muốn làm hoặc sẽ làm một việc gì đó. Một lời hứa với Chúa là tương đương một lời khấn, và nó ràng buộc lương tâm theo mức độ nặng hay nhẹ của lời hứa, và ý định tự ràng buộc mình với hình thức mang tội. Lời hứa với người khác cần phải tuân giữ, và buộc mình trong công bình hay bác ái, với sự nghiêm trọng ít hay nhiều là tùy vào khả năng của mình để chu toàn lời hứa, và sự thiệt hại gây cho người khác do mình không giữ lời hứa.

Promised Land
Đất Hứa. Là vùng đất Canaan (Ca-na-an), thường được nghĩ là tòan bộ phần phía tây của Palestine. Vùng đất này được Chúa hứa với dân Do Thái sau khi họ cư ngụ lâu ngày trong sa mạc (Xh 12:25).

Promised Secret
Bí mật được hứa giữ. Là một sự thật hoặc một sự kiện mà một người đồng ý giữ kín sau khi bí mật được tiết lộ. Người này không có cơ hội từ chối nghe sự tiết lộ, trước khi hứa giữ mật vấn đề. Các bí mật được hứa giữ ràng buộc theo tội nhẹ trong trường hợp bình thường.

Promoter Of The Faith
Chưởng tín. Là chức danh của một luật sư Giáo hội, đứng về phía Giáo hội trong nhiều vụ án, nhất là trong tiến trình phong chân phước hay phong thánh. Người này thường được gọi là luật sư của quỷ, phải thẩm vấn chéo những người cố gắng bênh vực điều tốt lành của vụ án.

Prompt Succor, Our Lady Of
Đền thánh Đức Mẹ Prompt Succor (Giúp đỡ Mau mắn.) Là đền thánh dâng kính Đức Mẹ tại New Orleans, bang Louisiana (Mỹ.) Câu chuyện của đền thánh bắt đầu với một nữ tu dòng thánh Ursula, là Mẹ Thánh Micae, đến từ Pháp trong cuộc Cách mạng Pháp. Mong muốn sinh họat trong cộng đòan Dòng ở Mỹ, mẹ bị giám mục giáo phận Montpellier, Pháp, cản trở, vì ngài cấm mẹ rời bỏ một trường học mới mở. Mẹ Thánh Micae liền cầu nguyện trước một tượng Đức Bà và Chúa Hài Nhi để xin giúp đỡ; gần như ngay sau đó, mẹ nhận được thư trả lời của Đức Giáo hòang Piô VII, ngài đồng ý lời thỉnh cầu của mẹ. Nữ tu này đến New Orleans ngày 1-1-1810, với tượng Đức Bà và vài nữ tu khác, và họ không mất thì giờ phổ biến việc đạo đức tôn sùng Đức Bà dưới tước hiệu “Đức Bà Giúp đỡ Mau mắn.” Khi trận chiến ở New Orleans xảy ra, Mẹ Thánh Micae xin mọi người cùng cầu nguyện với mẹ để cho người Mỹ chiến thắng. Trên chiến trường Chalmette, mặc dầu bị chênh lệch nhiều về tỉ lệ sức mạnh, người Mỹ đã chiến thắng. Đức Mẹ Maria được đặt tước hiệu mới trong một buổi lễ tạ ơn, và lễ Đức Mẹ này được Đức Giáo hòang Piô IX chính thức chấp thuận. Việc sùng mộ Đức Mẹ lan truyền nhanh. Tượng Chúa Hài Nhi và Đức Mẹ được đội mũ triều thiên năm 1894, và Đức Mẹ được tuyên bố là bổn mạng của bang Louisiana dưới tước hiệu mới của Đức Mẹ. Ngày nay, tượng đứng trong một nhà nguyện mới kiểu Gothic, dưới một vòm đá, nơi nhiều người hành hương chứng kiến nhiều phép lạ phần xác và phần hồn.

Promulgation
Công bố, ban hành, phổ biến. Là hành vi thông báo một luật cách công khai, với hiệu lực buộc người ta tuân giữ luật kể từ ngày ban bố. Các luật của Tòa thánh được công bố trong công báo chính thức Acta Apostolicae Sedis (Công báo Tông tòa.) Các luật này có hiệu lực sau khi đăng trên Công báo ba tháng. Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt, Đức Giáo hòang có sự tự do công bố luật theo cách khác.

Propaganda
Tuyên truyền. Là nỗ lực cố ý và có hệ thống để tạo ảnh hưởng và làm thay đổi các ý tưởng, thái độ và lòng tin của người khác. Trên nguyên tắc Công giáo, “một chiến dịch tuyên truyền, với quan điểm gây ảnh hưởng công luận, chỉ được biện minh khi nó phục vụ sự thật, khi mục tiêu và phương pháp của nó phù hợp với phẩm giá con người, và khi nó cổ vũ các chính nghĩa có lợi cho công ích” (Huấn thị mục vụ Communio et Progressio, 1971, 29). (Từ nguyên Latinh propagare, sinh ra; mở rộng, gia tăng.)

Propagation Of The Faith
Hội Truyền bá Đức tin. Là một tổ chức quốc tế để trợ giúp, bằng lời cầu nguyện và tiền bạc dâng cúng, cho các nhà thừa sai Công giáo trên khắp thế giới. Hội này được bà Pauline Jaricot thành lập năm 1822 tại Lyons, Pháp. Hiện nay hội họat động dưới sự bảo trợ của Thánh Bộ Truyền giảng Tin Mừng cho các Dân tộc (Truyền bá đức tin).

Proper
Phần riêng. Là các phần của buổi lễ tôn giáo (nghĩa là Thánh lễ), vốn thay đổi tùy theo ngày lễ hay mùa phụng vụ. (Từ nguyên Latinh proprius, của riêng, không chung với người khác, đặc biệt, thật sự, xác thực, chính cống.)

Proper Cause
Nguyên nhân riêng, nguyên nhân đặc thù. Là một nguyên nhân đặc biệt cần có để tạo ra một hiệu quả đặc biệt. Như thế, Chúa là nguyên nhân đặc thù của sự hiện hữu thế giới; một con người là nguyên nhân đặc thù của lời nói hiểu được của mình.

Proper Of The Saints
Phần riêng các Thánh. Trong Sách lễ Roma, là các ngày lễ của các thánh được kính nhớ trong Giáo hội hòan vũ. Các lễ được xếp theo thứ tự, từ tháng Giêng đến tháng Mười Hai.

Proper Of The Season
Chu kỳ các Mùa. Trong Sách lễ Roma, là các lễ phụng vụ của một năm, gồm có: Mùa Vọng, Mùa Giáng Sinh, Mùa Chay, Tuần Thánh, Chủ nhật Phục sinh cho đến Thứ Ba sau đó, mùa Phục Sinh, mùa quanh năm (mùa thường niên), và các lễ trọng của Chúa quanh năm.

Property
Đặc tính, sở hữu, quyền sở hữu, tài sản. Trong thần học và triết học, là đặc tính của người nào hoặc vật nào, vốn không tạo nên yếu tính, nhưng cần thiết đi theo yếu tính. Vì vậy, đó là một phẩm chất riêng biệt và nổi bật của một hữu thể. Trong luân lý và đạo đức, tài sản là cái gì mà người ta sở hữu, hoặc đó là quyền sở hữu của người ta.

Prop. Fid.
Prop. Fid., Propagandâ Fide—Bộ Truyền bá Đức tin (Roma).

Prophecies Of St. Malachy
Lời sấm của thánh Malachy. Là các lời được cho là tiên báo về các Đức Giáo hòang tương lai, do thánh Malachy (1094-1148), Tổng giám mục tổng giáo phận Armagh, nói ra. Năm 1590 người ta phát hiện tại Roma một sưu tập gồm 112 phương châm bí mật từ thời Đức Giáo hòang Celestine II (trị vì năm 1143-44) cho đến tận thế, khi Phêrô người Roma sẽ là Đức Giáo hòang cuối cùng. Tính trung thực của các lời sấm này thường bị nghi ngờ, mặc dầu từ thế kỷ 18 nhiều lời sấm này được cho là thích đáng cách khác thường. Lời sấm cuối được diễn tả trong các câu sau đây: “Trong thời bách hại cuối cùng đối với Giáo hội Roma, sẽ là thời của Phêrô người Roma, người sẽ nuôi nấng đòan chiên giữa bao khổ cực, sau đó thành phố bảy ngọn đồi sẽ bị phá hủy, và Đấng Thẩm phán dễ sợ sẽ xét xử mọi người.” Tuy nhiên, có số lượng không xác định các Đức Giáo hòang giữa Phêrô người Roma và vị tiền nhiệm là De Gloria Olivae (Từ vinh quang cây ôliu).

Prophecy
Lời sấm, sấm ngôn, sứ ngôn. Là sự tiên đoán các sự kiện tương lai, vốn không biết được bằng các phương tiện tự nhiên. Tuy nhiên, ý nghĩa kinh thánh của từ ngữ Do Thái cổ hozeh (sứ ngôn) là đại chúng hơn, tức có nghĩa là “thị kiến” hoặc “mặc khải được giải thích.” Những người được kêu gọi nói sứ ngôn thực sự thỉnh thoảng đã làm, cũng dự báo các sự kiện tương lai, nhưng các tiên đóan này là các khẳng định của Chúa về một thị kiến trung thực hơn là chính thị kiến. Các sứ ngôn như là lời tiên báo là một phần của việc quan phòng siêu nhiên của Chúa. Chúa, nhìn thấy việc tương lai như là mãi mãi hiện tại, có thể chuyển thông cho các thụ tạo của Chúa sự hiểu biết mà Chúa đã có. Cuối cùng chỉ có Chúa có quyền mà thôi, bởi vì việc biết trước các sự kiện tương lai là chỉ có Chúa sở hữu mà thôi. Các sứ ngôn là lời của sự tiền tri của Chúa, cũng như phép lạ là công việc của quyền Chúa toàn năng. Như thế một tôn giáo được các sứ ngôn hỗ trợ phải là tôn giáo của Chúa. (Từ nguyên Hi Lạp proph_t_s, một người nói nhân danh Chúa, người thông ngôn, ngôn sứ; nghĩa đen là người nói thay người khác,)

Prophet
Ngôn sứ, tiên tri. Từ ngữ kinh thánh nabi có nghĩa là người nói, hành động, hoặc viết dưới ảnh hưởng lạ thường của Chúa, để làm cho người khác biết lời khuyên và ý muốn của Chúa. Tuy nhiên từ ngữ này thường liên kết với chức năng ban đầu để công bố lời Chúa, một ngôn sứ cũng nói lời sứ ngôn bằng cách báo trước các sự kiện tương lai. Như vậy, vai trò của ngôn sứ là vừa loan báo, vừa làm cho lời loan báo được người ta tin.

Propitiation
Làm lành, làm nguôi giận, lễ đền tội. Là làm dịu một người đang giận dữ. Đền tội là một trong ba hoa trái của mỗi việc lành; các hoa trái khác là khẩn nguyện và công đức. Nó cũng là một trong bốn mục đích của Hy tế Thánh lễ, mà sức đền tội dành cho tội lỗi, cho sự xá tội và trừng phạt dành cho người sống, và cho sự trừng phạt dành cho kẻ chết. (Từ nguyên Latinh propitiare, làm cho thuận lợi.)

Proposition
Mệnh đề, định đề, đề xuất, đề nghị. Là một tuyên bố diễn tả một quyết định, bằng cách đưa ra một khẳng định hoặc một phủ định dứt khoát. Các tín lý của Giáo hội, dù là thuộc tín lý hay luân lý, được diễn tả bằng các mệnh đề hay giản lược thành các mệnh đề. Đây là các mệnh đề quyết đóan, bởi vì chúng là tuyệt đối, chứ không là các mệnh đề giả định về điều chúng khẳng định hay phủ định. Và chúng là các mệnh đề cần thiết, bởi vì điều được nói là được chứa một cách cần thiết trong đó, hoặc nhất thiết loại trừ khỏi tính chất hay khái niệm của chủ đề (về điều được nói ra). (Từ nguyên Latinh propositio, trình bày, sự xác nhận; từ chữ proponere, đưa ra, đặt ra trước.)

Propr
Propr, Proprium—phần riêng.

Proprio Motu
Proprio Motu, tự sắc. Thường viết là motu proprio. Là điều gì được làm do sáng kiến riêng hoặc ý riêng của một người. Một cách đặc biệt, tự sắc là một số văn kiện Giáo hoàng được viết theo quyền riêng của chính Đức Giáo hòang, thường để đáp ứng một nhu cầu đặc biệt và khẩn trương trong Giáo hội.

Proselyte
Tân tòng, tín đồ mới. Là người chuyển từ tôn giáo này sang tôn giáo khác, tức người cải đạo. Trong Cựu Ước, một tín đồ mới của Do Thái giáo chưa được chấp nhận hoàn toàn cho đến khi người ấy chịu phép cắt bì. Khi thánh Phaolô và Barnabas (Ba-na-ba) rửa tội cho các người trở lại đạo ở Antioch (An-ti-ô-khi-a), các ngài không phân biệt giữa người Do thái và Dân ngọai, và đấu tranh thành công tại Jerusalem (Giê-ru-sa-lem) chống lại việc phải chịu cắt bì (Cv 15). Ông Nicolaus (Ni-cô-la), một tân tòng ở Antioch, là một trong bảy phó tế được các Tông đồ chọn (Cv 6:5).

Proselytize
Thu phục tín đồ, châu mộ tín đồ. Lúc đầu từ ngữ này có nghĩa là làm cho một người cải từ tôn giáo này sang một tôn giáo khác, hoặc giúp một người chấp nhận hoàn toàn giáo lý và nghi lễ của một tôn giáo, hay ít là có thiện cảm với tôn giáo ấy. Tuy nhiên, nó có ý nghĩa thông thường hơn, đó là dụ dỗ một người thay đổi niềm tin tôn giáo của họ bằng các phương thức gian lận và thậm chí vô liêm sĩ. (Từ nguyên Hi Lạp pros_lytos, trở lại Do Thái giáo; nghĩa đen là một người đã đến.)

Prosphora
Prosphora, bánh lễ Đông Phương, Phần dâng lễ. Nghĩa đen là lễ vật hay lễ dâng bánh. Đây là bánh lễ trên bàn thờ trong Phụng vụ Hi Lạp hoặc Byzantine. Bánh này hình tròn làm bằng bột mì có men, có khắc một hay nhiều biểu tượng, chẳng hạn một thánh giá giữa các mẫu tự Hi Lạp IC XC NI KA (Chúa Giêsu Kitô Chiến thắng). Từ ngữ còn có nghĩa là Phần dâng lễ, là phần thứ ba của Phụng vụ Thánh thể trong Nghi lễ Byzantine, tương đương với Phần Dâng lễ của Thánh lễ.

Prostration
Phủ phục, sấp mình. Là sấp mình xuống trước một người để tôn thờ hay hối tội, khẩn cầu hay quy phục. Trong nghi thức phụng vụ ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, các thừa tác viên nằm phủ phục trước bàn thờ. Sự phủ phục cũng là một phần của nghi thức tấn phong giám mục, truyền chức linh mục và phó tế. Phủ phục cũng được yêu cầu trong lần khấn trọng thể (khấn trọn đời, khấn vĩnh viễn, vĩnh khấn) trong một số Dòng tu. Việc quỳ cả hai gối và cúi đầu cũng là một hình thức phủ phục.

Prot. Ap.
Prot. Ap., Protonotary Apostolic, Đức Ông Bậc Nhất, Đệ nhất Lục sự Tòa thánh.

Protestant Ethic
Đạo đức Tin Lành. Là một lọat giá trị đạo đức gắn liền với đạo Tin lành của người Anglo-Saxon. Cốt yếu của các giá trị này là sự nhấn mạnh về tự do cá nhân, làm việc chăm chỉ, tinh thần cạnh tranh, và động cơ tư lợi để hòan thành công việc. Chủ nghĩa tư bản hiện đại được cho là một sáng tạo của đạo đức Tin lành, ở nơi nào mà nguyên tắc của Cải cách về linh hứng riêng tư trong tôn giáo dần dà biến thành chủ nghĩa cá nhân cứng rắn trong kinh tế.

Protestantism
Đạo Tin lành, Thệ phản. Là hệ thống niềm tin, việc thờ phượng, và thực hành sống đạo phát sinh từ các nguyên tắc của cuộc Cải cách trong thế kỷ 16. Như tên gọi, đạo này phát sinh từ sự Phản kháng của các người Cải cách tại Nghị viện Speyer (năm 1529), chống lại các quyết định của đa số Công giáo nói rằng không chấp nhận có thêm các đổi mới tôn giáo nữa. Mặc dầu hiện nay Tin lành bị chia ra thành hàng trăm giáo phái, gia đình nguyên thủy của Tin lành chỉ có năm giáo phái: Tin lành Luther, Tin lành Calvin, Tin lành Zwingli ở đại lục châu Âu, và Anh giáo cùng Hội thánh Tự do hay phái Giáo đòan ở Anh. Ba tiền đề của Tin lành luôn được giữ nguyên, đó là Kinh thánh, luật đức tin duy nhất, lọai trừ Thánh truyền và quyền bính Giáo hội; sự công chính hóa chỉ bằng đức tin mà thôi, lọai trừ công đức siêu nhiên và việc lành; và chức linh mục phổ quát của mọi tín hữu, lọai trừ chức Giám mục và chức Linh mục được Chúa ban qua việc truyền chức để giảng dạy, quản trị và thánh hóa dân Chúa. (Từ nguyên Latinh protestari, tuyên xưng đức tin chống lại điều gì đó, làm chứng tá.)

Protocanoncial
Đệ nhất chính lục, chính thư qui. Là từ ngữ áp dụng cho các sách Kinh thánh, nhất là trong Cựu Ước, mà tính cách linh hứng là không bao giờ gây thắc mắc cho bất cứ Giáo phụ nào. Nhưng cách diễn tả này dễ bị hiểu sai, bởi vì không phải Giáo phụ, nhưng mà huấn quyền Giáo hội dưới quyền Đức Giáo hòang là được Chúa cho phép quyết định về quy điển tính của Kinh thánh.

Protocol
Bản dự thảo, lễ tân. Lúc ban dầu có nghĩa là chiếc lá đầu tiên dán vào cuộn giấy chỉ thảo; sau đó là tờ giấy có đóng dấu ấn, được một lục sự ghi tóm tắt nội dung tài liệu lên đó. Hiện nay là lễ tân được các chức sắc đạo và đời tuân giữ. Trong nghĩa này lễ tân cho các giám mục, nhất là cho các chức sắc của Vatican và Đức Giáo hòang là phức tạp hơn và được tuân giữ cẩn thận. (Từ nguyên Hi Lạp pr_tokollon, tờ đầu tiên của tập sách, ghi nội dung tóm tắt của cả tập sách.)

Protoevangelium
Tiền Phúc âm theo Giacôbê. Là tên gọi hiện đại của “ngụy Phúc âm thời Thơ ấu của Chúa.” Cũng còn được gọi là Sách của thánh Giacôbê Hậu. Hầu như có nguồn gốc từ Ảo thân thuyết, sách này chứng minh lòng sùng mộ Đức Mẹ Maria phát sinh khá sớm, từ thế kỷ thứ hai. Nó là ngụy Phúc âm cổ xưa nhất, Protoevangelium (Phúc âm Đầu tiên) cũng áp dụng cho lời hứa của một Chúa Cứu thế sau khi loài người Sa ngã. Nói với con rắn, Chúa bảo: “Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó" (St 3:15). Theo truyền thống, người đàn bà và con của người đàn bà ấy được hiểu chính là Đức Maria và Con của Mẹ.

Proto-Martyr
Vị tử đạo tiên khởi. Là thánh Tê-pha-nô (Stephen), mà cuộc tử đạo của ngài được thánh sử Luca kể lại (Cv 6:8-7:60). Hoặc bất cứ người nào là người đầu tiên chịu sự bách hại theo gương thánh Têphanô.

Protonotary Apostolic
Đệ nhất lục sự Tòa thánh, Đức Ông Bậc nhất. Là thành viên của bậc cao trong số các giám chức liên quan đến Giáo triều Roma. Có bốn lọai Đức Ông này: 1. Những vị ký văn kiện của Đức Giáo hòang, làm việc có liên quan đến hội nghị cơ mật và tiến trình phong thánh, xem xét các ứng viên, và trao một số văn bằng Giáo hội; 2. một số kinh sĩ của đền thờ thánh Phêrô, vương cung thánh đường Lateran, vương cung thánh đường Đức Bà Cả, và một số hội kinh sĩ ngòai Roma; 3. Những vị có các huy hiệu bề ngòai giống như các vị nói ở mục 1; và 4. các linh mục ngòai Roma nhận lãnh chức tước này.

Protopope
Linh mục thượng đẳng. Là một linh mục ở đẳng cao, trong Giáo hội chính thống và Giáo hội qui hiệp Byzantine, là cấp tương đương với linh mục niên trưởng hay linh mục hạt trưởng trong nghi lễ Tây phương. (Từ nguyên Hi Lạp pr_to, thứ nhất, trưởng + papas, tước hiệu Giám mục.)

Prototype
Nguyên mẫu, điển hình. Tâm trí của Chúa như là khuôn mẫu gốc và vĩnh viễn của mọi sáng tạo. (Từ nguyên Hi Lạp pr_to, thứ nhất, trưởng + typos, dấu ấn, đóng dấu, khuôn.)

Prov
Prov, Provision, provisum—điều khỏan, giáo vụ, chỉ định theo Giáo luật.

Proverb
Tục ngữ, cách ngôn, ngạn ngữ. Là một nhận định ngắn về một sự thật phổ quát được viết ra rõ ràng. Có nhiều tư tưởng cách ngôn trong Kinh thánh, trình bày các sự thật thiêng liêng và các khát vọng của con người. Một trong các sách nổi tiếng nhất trong Cựu Ước là Sách Châm ngôn (Cn), chứa nhiều thành ngữ của sự khôn ngoan và kinh nghiệm.

Pro-Vicar Apostolic
Quyền Đại diện tông tòa. Là người được bổ nhiệm cho một Đại diện tông tòa, để thay thế ngài tạm thời trong trường hợp ngài qua đời, hoặc trong trường hợp quyền tài phán của ngài bị cấm cản do “lưu đày, biệt xứ hoặc mất khả năng.”

Providence
Quan phòng. Là kế họach rất khôn ngoan của Chúa cho vũ trụ, và thực thi kế họach này bằng sự quản trị đầy yêu thương của Chúa. Kế họach muôn đời cho thế giới và sự thực hiện kế họach trong thời gian được gọi chung là sự quan phòng của Chúa. Như được Công đồng chung Vatican I (1869-1870) diễn tả, "Chúa trong Sự quan phòng của Chúa trông xem và quản trị mọi lòai mà Chúa đã dựng nên, đi từ đầu này đến đầu kia với sức mạnh, và sắp đặt mọi sự với sự hòa nhã nhẹ nhàng" (Denzinger 3003). Sự quan phòng của Chúa là phổ quát trong mọi sự kiện, ngay cả các quyết định riêng tư nhất của loài người, là một phần của kế họach muôn đời của Chúa. Sự quan phòng của Chúa là chắc chắn một cách không sai lầm, bởi vì mục đích tối hậu mà Chúa dành cho vũ trụ sẽ không thất bại. Và sự quan phòng này là bất biến, bởi vì chính Chúa cũng không đổi thay. (Từ nguyên Latinh providentia, sự thấy trước, lo xa, sự biết trước.)

Province, Religious
Tỉnh Dòng. Là một nhóm tu viện dưới quyền một bề trên chung, gọi là giám tỉnh, tạo nên thành phần của một Dòng tu.

Provincial
Vị Giám tỉnh, Bề trên Tỉnh Dòng, Tỉnh Phục vụ. Là bề trên thực hiện việc giám sát chung trên một số tu viện, vốn làm nên thành phần của một Dòng tu, gọi là Tỉnh Dòng. Vị Giám tỉnh lại là dưới quyền của vị Bề trên cả (Tổng quyền, Tổng phục vụ) theo đúng Hiến chương của Dòng tu.

Provision
Giáo vụ. Là bất cứ sự trao quyền nào cho một người vào một chức vụ trong Giáo hội. Như thế việc chỉ định một giáo sĩ vào bất cứ chức vụ nào gọi là giáo vụ. Các cách thức duy nhất hợp lệ để giữ chức vụ trong Giáo hội là bổ nhiệm tự do, bầu chọn, thỉnh nguyện, bổ nhiệm hoặc chỉ định: đó các tất cả các cách đưa người làm giáo vụ. Chỉ cần có hai điều kiện cần thiết: ứng viên thích hợp với chức vụ theo nhận xét của bề trên, và chức vụ đang trống người.
Provision, Canonical
Chỉ định theo Giáo luật. Là việc giao giáo vụ cho một người bởi thẩm quyền của Giáo hội, đúng theo các khoản của Giáo luật.

Provisionalism
Chủ nghĩa tạm thời. Là thuyết cho rằng mọi hình thức hiểu biết, kể cả tri thức tôn giáo, đều chỉ là tạm thời. Bất cứ điều gì người ta nghĩ đến bây giờ, thì chỉ trong một thời gian ngắn sau đó nhiều người khác chắc sẽ nghĩ khác hơn, và nghĩ tốt hơn trong tương lai.

Provocation
Khiêu khích, khiêu gợi. Là khích động người khác làm một hành động nào đó. Đây là một trong các cách mà một người có thể chia sẻ trong lỗi tội của người khác. Sự khiêu khích có thể là bằng lời nói hay bằng hành động; nó cũng có thể được thực hiện bằng sự im lặng hay tình trạng ì. Mức độ nặng hay nhẹ của nó là tùy vào mức độ ý thức rằng người kia bị khiêu khích để làm điều sai, và nhất là dựa vào sự ác ý hay sự dửng dưng, mà cùng với nó sự khiêu khích để làm điều xấu được thực hiện. (Từ nguyên Latinh provocation, thách thức, gợi lên.)

Provost
Người đứng đầu hội giáo sĩ, hiệu trưởng. Trong thời đầu Kitô giáo, là người có quyền chỉ sau vị viện phụ trong một tu viện, nhưng nghĩa mới đây là người đứng đầu hội giáo sĩ. Sau đó, danh từ này đã được hiểu là vị hiệu trưởng của một số trường cao đẳng trong các học hiệu đời. (Từ nguyên Latinh praepositus, chức sắc chủ tọa.)

Proximate Occasions
Dịp tội gần, cơ hội gần. Là tình huống gần như dẫn người ta đến phạm tội. Đây là các tình huống trong đó một người bình thường hầu như chắc là phạm tội, hoặc là tình huống trong đó một người cứ cân nhắc về luật là có tội không. Nói chung, dịp tội bị xem là dịp tội gần, là đã được biết từ kiến thức của bản tính con người, và cách thức con người nói chung phản ứng với các tình huống ấy. Dịp tội là gần cho mọi người là được biết từ kiến thức của bản tính con người, và cách thức con người nói chung phản ứng với các tình huống ấy. Dịp tội là gần cho một số người là được biết từ kinh nghiệm, hoặc từ một sự đánh giá chân thật về sự yếu đuối của người ấy.

Prudence
Minh trí, thận trọng, khôn ngoan, dè dặt. Là sự hiểu biết đúng về điều phải làm, hoặc nói rộng hơn, là sự hiểu biết về điều cần phải làm và điều cần phải tránh. Đây là một nhân đức trí tuệ, nhờ đó một người nhận biết trong mọi chuyện ở tầm tay mình cái gì là tốt và cái gì là xấu. Trong nghĩa này, đó là nhân đức luân lý giúp một người nghĩ ra, chọn lựa, và chuẩn bị phương cách phù hợp để đạt một mục đích nào đó, hoặc tránh điều xấu nào đó. Sự minh trí nằm trong trí tuệ thực tiễn, và vừa là được thủ đắc bởi hành vi của một người, vừa là được phú bẩm như là ơn thánh hóa. Nó có thể là tự nhiên vì do chúng ta phát triển, và là siêu nhiên vì do Chúa ban cho. Là hành vi của nhân đức, sự thận trọng (minh trí) gồm ba giai đọan họat động tâm trí: lấy lời khuyên cẩn thận từ chính bản thân và với người khác; xem xét chính xác dựa trên bằng chứng có trong tay; và điều khiển phần còn lại của họat động đúng theo các qui định, sau khi một sự phán đoán khôn ngoan đã được thực hiện. (Từ nguyên Latinh prudentia, thấy trước trong trật tự thực tế; từ chữ providentia, thấy trước, quan phòng.)

Prudential Certitude
Sự chắc chắn thận trọng. Là sự đồng ý dựa vào bằng chứng vừa đủ để biện minh việc một người hành động theo cách có lợi cho mình hay cho người khác. Đó là một xác suất cao có nền tảng là sự cần mẫn bình thường, để xem xét bằng chứng hiển nhiên, và được tác động bởi ý ngay lành trong các vấn đề thực tiễn của cuộc sống thường ngày.
Ps
Ps, Psalmus—Thánh vịnh.

Psalm
Thánh Vịnh. Là một thánh thi ca ngợi, thường được hát hay ca ngâm, được lấy một phần hay nguyên cả một thánh vịnh từ sách Thánh vịnh (Tv) trong Cựu Ước; nguyên thủy là một bài ca chơi bằng đàn hạc. Hầu hết các chủ đề dùng trong âm nhạc Gregorian, cũng như phần lớn trong Kinh Nhật Tụng là gồm các bài thánh thi này.

Psalmody
Hát Thánh vịnh, ngâm Thánh vịnh. Là việc Hát Thánh vịnh trong phượng tự; nó được chuyển từ hội đường Do Thái vào Giáo hội thời sơ khai, theo gương Chúa Kitô.

Psalms, Book Of
Sách Thánh vịnh (Tv). Là một sưu tập các thánh thi và bài thơ được linh hứng, còn gọi là “Sách Thánh vịnh của David nếu đủ 150 thánh vịnh” (Công đồng chung Trent, Denzinger năm 1502). Tên của sách bằng tiếng Do Thái cổ là Tehilim, thánh thi hoặc bài hát ca ngợi. Mặc dầu vua David (Đa-vít) là tác giả chính, ông không là tác giả duy nhất của các thánh vịnh. Các thánh vịnh được chia thành năm phần, mỗi phần kết thúc bằng một vinh tụng ca, các phần gồm có các thánh vịnh 1-40, 41-71, 72-88, 89-105, 105-150, theo Kinh thánh bản Phổ thông. Khỏang 100 Thánh vịnh có nhan đề và nói rõ tên tác giả, hòan cảnh lịch sử, ghi ký hiệu âm nhạc hoặc thể thơ ca nào. Các nhan đề này, mặc dầu không linh hứng, có giá trị lịch sử lớn. Mỗi Thánh vịnh có một chủ đề hoặc mục đích riêng, với tám chủ đề được phân biệt rõ ràng, đó là: 1. thánh thi ca ngợi và tạ ơn Chúa (8, 17, 102-6, 145-150); 2. khẩn cầu (29, 63, 73, 93); 3. giáo dục mô phạm hay luân lý (1, 48, 118); 4. đền tội (6, 31, 37, 50, 101, 129, 142); 5. trị ác (17, 34, 58, 68, 78, 93, 108, 129, 142); 6. trình thuật lịch sử về sự chăm sóc quan phòng của Chúa với dân Israel (75, 104, 105, 113, 134, 135); 7. ca tiến cấp hay ca hành hương (119-33); 8. chờ Đấng Thiên sai (2, 15, 21, 44, 68, 71). Việc sử dụng thánh vịnh cho thờ phượng đã được Giáo hội chọn sau thời các thánh Tông đồ. Ngày nay thánh vịnh là phần chính yếu của Phụng vụ các Giờ Kinh.

Psalm Tones
Giai điệu Thánh vịnh. Là các giai điệu được sử dụng để hát Thánh vịnh trong phụng vụ Công giáo, nhất là Kinh Nhật Tụng. Lúc đầu là một âm xướng lên, rồi đến một dấu nhạc đơn dành cho nhiều âm tiết trên độ cao thấp của thể thức nhà thờ sử dụng, sau đó đến một giai điệu kết thúc ở giữa câu và phách cuối cùng. Điệp ca nguyên câu hay một phần nhỏ mở đầu mỗi Thánh vịnh, và điệp ca đầy đủ kết thúc thánh vịnh, sau kinh Sáng danh. Giai điệu mở đầu của điệp ca quyết định việc chọn lựa cách kết thúc trong nhiều kiểu kết thúc. Có tất cả tám giai điệu cho hát thánh vịnh theo truyền thống.

Psalter
Sách Thánh vịnh, đàn Xante. Là việc chuyển ngữ, thường là bằng thi ca, của Sách Thánh Vịnh (Tv) ra các tiếng địa phương để sử dụng ở nhà hay ở nhà thờ. Còn là đàn xante, một đàn dây cổ xưa với một miếng gỗ tăng âm, người ta chơi đàn bằng cách gảy dây đàn.

Psalter Of Mary
Psalterium Marianum, Sách Thánh vịnh Đức Maria, Thánh ca về Đức Mẹ Maria. Là một tuyển tập các Thánh vịnh và Thánh ca về Đức Trinh Nữ Maria. Tuyển tập này do thánh Bonaventure (1221-74) thực hiện. Kinh chuỗi Mân côi, do 150 kinh Kính Mừng của chuỗi là thích đáng với 150 Thánh vịnh, đôi khi được gọi là sách Thánh vịnh Đức Maria.

Psaltery
Sưu tập các thánh vịnh David, đàn Xante. Là tuyển tập các Thánh vịnh của vua David (Đa-vít) được dùng trong Kinh Nhật Tụng. Có hai sưu tập các thánh vịnh quan trọng trong lịch sử phụng vụ: Sưu tập Roma, dùng tại Đền thờ thánh Phêrô, và Sưu tập Gallican, vốn là một bản dịch của thánh Jerome (Giê-rô-ni-mô). Sưu tập Gallican được sử dụng phổ biến hơn cho đến việc duyệt lại hoàn toàn sách Kinh Nhật Tụng năm 1970. Đàn Xante là một đàn dây, giống như đàn hạc, dùng để giúp hát thánh vịnh.

Psychoanalysis
Phân tâm học. Là một hình thức của tâm lý học thực hành, với mục đích là chẩn đoán, chữa trị, và phòng ngừa các rối loạn tâm thần. Trong nhiều trường phái phân tâm học, trong đó có phân tâm học của Sigmund Freud (1856-1939), Alfred Adler (1870-1937), và Carl Gustav Jung (1875-1961), bốn nguyên tắc chính dường như được đồng ý: 1. đời sống vô thức của một người có tầm quan trọng chính trong việc xác định cách hành xử có ý thức và công khai của một người; 2. thời thơ ấu và niên thiếu giữ vai trò quyết định trong việc tạo dáng cho cuộc sống sau đó của một người; 3. việc nói chuyện về các vấn đề của một người, bằng cách đưa vô thức lên bề mặt, là phần chính yếu của sự điều trị; 4. sự tái định hướng cho triết lý sống của một người là cần thiết để tránh sự tấn công hoặc sự tái phát của rối loạn tâm thần. (Từ nguyên Hi Lạp psych_, hồn, nguyên lý sự sống, sự sống + analyein, nới lỏng, thay đổi.)

Psychologism
Thuyết duy tâm lý. Là thuyết nói rằng trong số các khoa học xã hội, kể cả môn đạo đức học và thần học, tâm lý học và các phát hiện của nó là quan trọng nhất; là thuyết cho rằng mọi nguồn kiến thức về bản tính con người và tính tình con người đều được đánh giá bởi các nguyên tắc và nghiên cứu về tâm lý học.
Psychology
Tâm lý học. Tâm lý học thuần lý là khoa học về trí tuệ con người và các hành vi có ý thức của con người, hoặc nói rộng hơn là khoa học về linh hồn con người ở mọi cấp độ hoạt động, như trí tuệ, ý chí và tình cảm. Tâm lý học thực nghiệm điều tra mọi loại hành vi ý thức của con người bằng các phương pháp khoa học hiện đại, nó là như một trợ giúp cho tâm lý học thuần lý. (Từ nguyên Hi Lạp psch_, hồn, nguyên lý sự sống, sự sống + logia, kiến thức, khoa học.)
Psychophysical Parallelism
Thuyết tâm vật song lập, tâm vật bình hành thuyết. Là một trong nhiều thuyết cho rằng hoạt động của tâm và của vật (thân xác) trong con người chỉ xảy ra song song với nhau, nhưng không thực sự hiệp nhất, chẳng hạn các hành vi của con người.

Psychotherapy
Liệu pháp tâm lý. Nói chung, là sự điều trị các rối loạn tâm thần hoặc cảm xúc bằng các phương pháp tâm lý học. Về mặt kỹ thuật, đây là sự điều trị các rối loạn này bằng phân tâm học, tư vấn có tính hướng dẫn hay không hướng dẫn, tâm lý trị liệu, và các cách tương tự. Nhưng trong một nghĩa rộng hơn, nó có thể bao gồm việc nói chuyện không chính thức với một linh mục, mục sư hay một rabbi (giáo sĩ Do thái), tâm sự với bạn bè, và liệu pháp nghề nghiệp để giúp một người họat động có hiệu quả hơn, mà không cần điều tra các nguyên nhân vô thức của cách cư xử nơi người ấy. (Từ nguyên Hi Lạp psych_, hồn, nguyên lý sự sống, sự sống + therapuo, điều trị.)

Pub., Publ.
Pub., Publ., Publicus, publice—công cộng, công khai.

Publican
Người thu thuế. Trong Đế quốc Roma cổ, thường là một người ở bậc kỵ sĩ. Trong các Tin Mừng, người thu thuế là một người Do thái được các hiệp sĩ Roma giàu có thuê làm việc. Bị mọi người Do thái khinh bỉ, các người thu thuế bị xem như là kẻ phản bội với dân tộc và xem như là người tội lỗi. Không người thu thuế nào được phép làm nhân chứng tại tòa án. Tuy nhiên một số trong những người bị khinh miệt ấy lại là thuộc nhóm môn đệ đầu tiên của thánh Gioan Tẩy Giả, và Tông đồ thánh sử Matthêu đã là một người Lêvi thu thuế.

Public Good
Công ích xã hội. Là phúc lợi chung của một xã hội, nhất là cộng đồng dân sự, khi được theo đuổi bởi các biện pháp chung trong chính quyền dân sự.

Public Oratory
Nhà nguyện công cộng. Là một nơi dành riêng cho việc phượng tự, nếu nó được chủ yếu nhắm tới lợi ích của một nhóm tập thể hoặc các cá nhân riêng, hơn là vì lợi ích của tòan thể tín hữu trong việc thờ phượng Chúa cách công khai. Tuy nhiên mọi tín hữu có quyền vào nhà nguyện này trong lúc ở đó có cử hành phụng vụ, chẳng hạn Thánh lễ.

Public Penitents
Người đền tội công khai. Trong thời đầu Giáo hội, ở một số giáo phận, có một số người được tách riêng khỏi cộng đòan, bằng cách mang áo đặc biệt, tóc cắt thật ngắn, và làm việc thờ phượng riêng trong phụng vụ. Ở một vài nơi, họ được Giám mục đặt tay lên họ vào mỗi ngày Chủ nhật. Chỉ sau khi làm việc đền tội đầy đủ, người đền tội này mới được đưa lại vào sự hiệp thông trọn vẹn với Giáo hội.

Public Propriety
Điều tai tiếng xấu, ngăn trở về liêm sỉ. Là một ngăn trở cho hôn nhân Kitô giáo. Hai hình thức của ngăn trở này thường được công nhận theo luật Giáo hội: hôn phối vô hiệu, và sự sống chung công khai. Ở đây hôn phối vô hiệu được hiểu là một giao ước bề ngòai giữa một người nam và một người nữ có vẻ là một hôn nhân, nhưng thật ra là vô hiệu. Tuy nhiên, một hôn nhân tự gọi là dân sự, trong đó có liên quan một người Công giáo, không được xem là có vẻ hôn phối bề ngòai, và do đó không tạo ra ngăn trở về liêm sĩ, nếu không có sự sống chung. Sống chung có nghĩa là một người nam và một người nữ sống chung nhà với nhau, trong một thời gian dài hay ngắn mà không kết hôn với nhau. Ngăn trở này vô hiệu hóa hôn phối trong trực hệ ở cấp thứ hai. Như thế một người nam không thể kết hôn hợp pháp với mẹ, hay bà, hay con hay cháu của người phụ nữ là tình nhân của mình hay là vợ giả của mình. Việc chuẩn có thể được ban, miễn là không có nguy hiểm rằng người vợ sau là con gái của người đàn ông, vì điều này có thể xảy ra nếu đàn ông có quan hệ tình dục với người mẹ trước khi con gái ra đời.

Public Revelation
Mặc khải công. Là sự tỏ hiện siêu nhiên đức khôn ngoan và ý muốn của Chúa cho lòai người, để dẫn dắt loài người đi vào thiên mệnh nước trời. Mặc khải công được giao cho Giáo hội gìn giữ và giải thích, và chứa trong Thánh Kinh và Thánh truyền.

Pulpit
Giảng đàn. Là một bục cao để thừa tác viên rao giảng hoặc đọc lời Chúa. Giảng đàn chỉ trở nên phổ biến từ cuối thời Trung Cổ. Trước đó một Giám mục giảng dạy từ ngai tòa của ngài; sau đó một đài giảng kinh được sử dụng, hoặc một đài gác. Ngọai trừ trong nhà thờ chính tòa, phía bắc của lòng nhà thờ được xem là nơi thích hợp nhất cho giảng đàn. Trong phụng vụ mới, giảng đàn cho linh mục hay phó tế thường nằm phía đối ngược với bục đọc các bài đọc trong Thánh lễ. (Từ nguyên Latinh pulpitum, giàn, đài cao.)

Punishment, Capital
Tử hình. Là sự trừng phạt bằng cái chết, được chính quyền dân sự áp dụng cho một số tội ác, vốn được xem là nguy hại nghiêm trọng cho xã hội. Giáo lý truyền thống của Giáo hội là án tử hình không chống lại luật Chúa, hoặc không được xem là cần thiết tuyệt đối. Các nền tảng ủng hộ lập trường này là mặc khải, lịch sử và lý luận. Kinh thánh gán cho chính quyền dân sự quyền cất mạng sống của người phạm tội ác nặng (St 9:6; Xh 21:22-25: Rm 13:4). Hơn nữa, trong mọi giai đọan của văn minh lòai người, án tử hình được xem là phù hợp với luật luân lý. Và như kinh nghiệm hiện nay cho thấy, việc lọai bỏ án tử hình sẽ làm đặt lại vấn đề về sự ác độc của các tội ác xấu xa nhất, và do đó mặc nhiên là đặt mạng sống của các công dân tốt vào sự nguy hiểm lớn nhất.

Pure Act
Động lực thuần nhiên. Là sự hòan hảo giản đơn của bất cứ cái gì. Là bất cứ cái gì không có sự bất tòan. Trong một nghĩa đúng nhất, được áp dụng cho Chúa là Actus purus (Động lực thuần nhiên), đó là sự hoàn hảo vô song của Chúa, vốn không hiện diện trong tiềm năng thụ động nào, hoặc không kết hợp với tiềm năng thụ động nào, hoặc không bị hạn chế bởi bất cứ tiềm năng thụ động nào, vốn có thể thay đổi hoặc hoàn thiện hữu thể vô cùng.

Pure Nature
Bản tính thuần khiết. Là điều kiện lý thuyết mà trong đó nhân lọai có thể sở hữu tất cả, và chỉ sở hữu tất cả những gì thuộc về bản tính con người, và chỉ trong đó con người mới đạt được mục đích tự nhiên tối hậu của mình. Mặc dầu chỉ là có thể mà thôi, ý tưởng về một tình trạng bản tính thuần khiết được Giáo hội bênh vực, để gìn giữ trật tự siêu nhiên, vốn bị bác bỏ bởi Luther, Calvin, và Jansen. Vì vậy Giáo hội dạy rằng Chúa có thể tạo dựng con người, mà con người sẽ không cần ơn siêu nhiên hoặc ơn ngọai nhiên, nhưng không trong điều kiện tội lỗi.

Purgative Way
Đường thanh luyện, luyện đạo. Là giai đọan đầu tiên của tâm nguyện, theo lời dạy của thánh nữ Têrêsa thành Avila và thánh Gioan Thánh Giá. Mối quan tâm chính của linh hồn trong giai đọan hoàn thiện này là ý thức về tội lỗi của mình, đau buồn về quá khứ, và mong muốn đền tội đã phạm với Chúa.

Purgatory
Luyện ngục, luyện tội. Là một nơi hoặc một điều kiện mà trong đó các linh hồn người công chính được thanh luyện sau khi chết, và trước khi họ có thể vào Thiên đàng. Họ có thể thanh luyện về lỗi của tội nhẹ, như trong cuộc đời này, bằng một hành vi sám hối phát sinh từ đức ái và thực hiện nhờ sự trợ giúp của ơn Chúa. Tuy nhiên, sự sầu buồn này không ảnh hưởng đến sự trừng phạt tội lỗi, bởi vì trong thế giới đời sau sẽ không còn khả năng tạo ra công đức nữa. Các linh hồn chắc chắn được thanh luyện nhờ việc đền cho các hình phạt tạm do tội, với việc vui lòng chấp nhận khổ đau do Chúa đặt ra cho mình. Các đau khổ trong luyện tội là không giống như nhau, nhưng tỉ lệ thuận với mức độ phạm tội của mỗi người. Hơn nữa, các đau khổ này có thể được giảm về cường độ và thời gian, nhờ lời cầu nguyện và việc lành phúc đức của các tín hữu còn ở trần gian này. Các đau khổ này cũng không thể sánh được với sự an bình và niềm vui lớn lao, bởi vì các linh hồn nghèo đói yêu mến Chúa sâu đậm và tin chắc sẽ được về thiên đàng. Là thành phần của Giáo hội đau khổ, các linh hồn trong luyện tội có thể cầu bầu cho những người ở thế gian này, do đó những người này được khuyến khích để cầu khẩn sự trợ giúp của họ. Luyện tội sẽ không tồn tại sau cuộc phán xét chung, nhưng thời gian thanh luyện cho các linh hồn vẫn tiếp tục cho đến khi các linh hồn ấy đền xong tội của mình. Ngay sau khi thanh luyện xong, linh hồn được đưa lên thiên đàng. (Từ nguyên Latinh purgatio, thanh luyện, tẩy sạch.)

Purg. Can.
Purg. Can., Purgatio canonica—thân oan theo giáo luật.

Purification
Lễ Thanh tẩy Đức Trinh nữ Maria. Là lễ kỷ niệm việc thanh tẩy của Đức Trinh Nữ theo luật Moses (Mô-sê), bốn mươi ngày sau khi Chúa Giêsu giáng sinh. Còn gọi là Lễ dâng Chúa Giêsu vào Đền Thánh. Lễ này được đưa vào Đế quốc Đông phương dưới triều Hòang đế Justinian (527-65), và được nhắc đến trong Sách nghi thức của Đức Giáo hòang Gêlasiô cho Giáo hội Tây phương trong thế kỷ thứ bảy. Nến được làm phép vào ngày này để tưởng nhớ lời sấm ngôn của ông Simeon (Si-mê-ôn) về Chúa Kitô “Đó là ánh sáng soi đường cho dân ngoại" (Lc 2:32), và cuộc rước nến được tổ chức trong một nhà thờ, để diễn tả sự kiện Chúa Kitô vào Đền thờ Jerusalem. Tên phổ thông của lễ này là Lễ Nến.

Purificator
Khăn lau chén. Là một khăn vải màu trắng, có thêu một thánh giá ở giữa khăn, được linh mục sử dụng trong Thánh lễ. Khăn này được xếp làm ba, và linh mục dùng khăn để lau ngón tay, chén thánh và đĩa thánh sau Rước lễ.

Purity
Thanh khiết, trinh trong, thanh sạch. Sạch khỏi bất cứ sự gì, mà sự yếu kém sẽ làm thay đổi hoặc làm suy yếu bản tính của một hữu thể, hoặc họat động của hữu thể ấy. Đức tinh thanh khiết có nghĩa là vắng sự sai lầm, vốn là trái với chân lý được mặc khải; ý hướng trong lành là sự lọai bỏ ý riêng của mình trong ước muốn thực thi ý Chúa; thanh sạch về luân lý thường qui chiếu đến nhân đức khiết tịnh, và do đó qui chiếu đến sự tự do khỏi làm điều sai quấy trong sinh họat tình dục, nhưng trên bình diện rộng lớn hơn, nó có nghĩa là vắng sự cư xử sai trái, nhất là trong cách xử thế có thể được công nhận bề ngòai hoặc công khai của một người. (Từ nguyên Latinh puritas, trong sạch, sạch sẽ, liêm khiết.)

Purity Of Body
Thể xác thanh sạch. Là tình trạng trinh khiết của người chưa kết hôn và tình trạng khiết tịnh vợ chồng của người đã kết hôn.

Purity Of Intention
Ý hướng trong lành. Là sự hòan hảo của nguyên nhân tạo ra hành động của con người. Một hành động là ít hay nhiều trong lành là tùy thuộc vào mức độ lòng mến Chúa, mà với lòng mến yêu ấy hành động được thực hiện.

Purple
Màu tím. Mà màu biểu tượng của sự đền tội hoặc sầu buồn, được dùng trong các mùa đền tội là Mùa Vọng và Mùa Chay, trừ ra ngày lễ kính vị thánh và vào hai Chủ nhật khi màu hồng thay thế màu tím. Màu tím có thể được dùng (hoặc màu trắng) trong Phụng vụ Thánh thể và Giờ kinh cầu cho tín hữu qua đời.

Purpose Of Amendment
Quyết chí sửa mình. Là quyết tâm chắc chắn của một hối nhân để nhận lãnh sự tha tội trong bí tích Xá giải. Hối nhân phải quyết tâm, nhờ ơn Chúa giúp, tránh không chỉ các tội đã xưng, mà còn tránh các dịp nguy hiểm cho tội nữa.

Pursuivants
Người đuổi bắt. Là các chức sắc nhỏ ở Anh trong thời cải cách luật pháp, họ đi tìm và bắt giữ các linh mục cùng những người che chở linh mục để truy tố, kết quả là giam cầm và ra án tử hình cho nhiều người Công giáo. Trong thời kỳ đầu, họ giúp việc cho các sứ giả, và sau đó thực hiện các lệnh bắt giữ người cho nhà vua.

Pusillanimity
Sự nhát gan, nhu nhược, yếu hèn. Là sự yếu nhược của linh hồn khi chùn bước trước các việc cao thượng hoặc gian khó. Nền tảng của điều này có thể là thiếu sự khiêm nhượng, hoặc không biết đến phẩm giá con người trong sự cộng tác với ơn Chúa, để hoàn thành việc lớn vì vinh quang Chúa. (Từ nguyên Latinh pusillus, rất nhỏ + animus, tâm trí.)
Putative Marriage
Hôn phối giả định. Là một hôn nhân vốn là vô hiệu, nhưng được thực hiện với thiện ý của ít nhất một bên. Cho đến khi có bằng chứng tích cực của giáo quyền về sự vô hiệu của hôn nhân ấy, hôn nhân vẫn có mọi hiệu quả của một hôn phối hợp pháp. Con cái sinh từ từ hôn nhân ấy là hợp pháp, và con cái bất hợp pháp được hợp thức hóa bằng hôn phối giả định. (Từ nguyên Latinh putare, cắt tỉa, rửa sạch; xem xét.)

Pyx

Hộp đựng Mình Thánh. Là một cái hộp kim loại hoặc một cái lọ kim loại để đựng Mình Thánh Chúa. Từ ngữ thường áp dụng cho một cái hộp nhỏ kim loại hình tròn (thường mạ vàng), được linh mục dùng để chứa một số Mình Thánh Chúa khi ngài đi thăm bệnh nhân. Tuy nhiên cái bình thánh lớn hơn cũng được gọi là Hộp đựng Mình Thánh. (Từ nguyên Hi Lạp puxis, hộp.)