ROSE FMSR

CHÂN DUNG THÁNH HIẾN

Khi một hữu thể hiện diện vào cuộc đời này, chắc hẳn đấng sinh thành nên họ và họ đều mong ước về một hình hài xinh đẹp, hài hòa, không khiếm khuyết. Đó là ước mong ở thế bị động, vì chính “Tay Chúa đã nắn con nên hình nên dạng”[1]. Với thế chủ động, nếu chưa hài lòng về vóc dáng của mình, khi có điều kiện, người ta sẽ tìm đến thẩm mỹ viện, dịch vụ spa, phòng tập gym, dùng các loại thực phẩm chức năng hay chí ít là trang điểm, với mong muốn cho khuôn mặt thêm tươi xinh, da sáng, dáng thon… Ngay cả khi chụp hình, người ta ít nhiều cũng nhờ đến sự tác động của kỹ thuật số để tạo nên bức chân dung đẹp, trông sao cho có “thần thái”. Vô hình trung, các biểu hiện trên cho thấy khát vọng sâu xa của con người là muốn bức chân dung cuộc đời mình phải đẹp.

Dù sống trong một thế giới ngày càng đề cao cái đẹp bên ngoài, nhưng thành ngữ ông bà ta truyền lại: “cái nết đánh chết cái đẹp” vẫn chưa lỗi thời, nó vẫn còn chỗ đứng cho những người tìm kiếm giá trị tinh thần cao đẹp.

Có một thực tế là ai cũng chân nhận nét đẹp của cái nết, nhưng nếu rong ruổi khắp phố phường, từ thành thị tới thôn quê, chúng ta vẫn chưa thấy bảng hiệu nào ghi “Viện sửa Nết” hay “Dịch vụ làm đẹp Nết”. Có chăng người ta thấy và được thu hút bởi những cái nết tạo nên nét đẹp tâm linh, nét đẹp tinh thần, nét đẹp nhân cách qua cung cách sống, hiện diện và phục vụ của hàng trăm ngàn người trên thế giới đang sống đời thánh hiến?“Đời sống thánh hiến qua việc tuyên khấn các lời khuyên Phúc Âm là một lối sống bền vững, nhờ đó, các tín hữu theo sát Đức Kitô hơn, dưới tác động của Chúa Thánh Thần, tự hiến hoàn toàn cho Thiên Chúa mà họ yêu mến trên hết mọi sự, để một khi đã hiến thân cho việc tôn vinh Thiên Chúa, cho việc xây dựng Giáo Hội và phần rỗi thế giới, với một danh nghĩa mới mẻ và đặc biệt, họ đạt tới sự hoàn hảo của đức ái trong việc phụng sự Nước Chúa, và một khi đã trở nên dấu chỉ rực rỡ trong Giáo Hội, họ tiên báo vinh quang thiên quốc”[2].

Đời sống thánh hiến được Giáo Hội phác họa bằng nét vẽ hài hòa giữa yếu tố thần linh và yếu tố nhân loại, tạo nên chân dung mang “vẻ đẹp của ân sủng và tu luyện”[3]. Vì chưng, dưới tác động của Chúa Thánh Thần, tu sĩ nhận ra hồng ân biệt chọn: “Không phải các con đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn các con”[4], họ hoàn toàn tận hiến cho Thiên Chúa bằng cách dâng lên Ngài một tình yêu trọn vẹn nhất. Nhờ đó, tất cả cuộc sống của họ trở thành việc thờ phượng liên lỉ trong Đức Ái[5].

Mẫu gương sự tận hiến cho đời thánh hiến là Chúa Kitô. Việc bắt chước Người cách sát sao được cụ thể hóa qua đời sống khiết tịnh, nghèo khó và vâng phục với tinh thần tự do thanh thoát. Bên cạnh đó, người sống đời thánh hiến còn được mời gọi tham gia vào sứ mệnh cứu độ nhân loại trên các nẻo đường Chúa Giêsu đã đi để hình thành Nước Thiên Chúa ngay tại trần thế và hướng Giáo Hội về đích điểm của cuộc lữ hành là đời sống mai hậu[6].

Như vậy, chúng ta có thể mường tượng chân dung thánh hiến được Giáo Hội vẽ nên bởi hai trục chính: trục thẳng đứng là tu sĩ tận hiến hoàn toàn cho Thiên Chúa qua việc bắt chước lối sống khiết tịnh, nghèo khó và vâng phục của Chúa Kitô; trục ngang là việc nối dài sứ vụ cứu độ của Chúa trong Đoàn sủng của Hội Dòng mà người tu sĩ thuộc về, hai trục giao nhau tạo nên hình chữ T (Tình Yêu) – Đức Ái trọn hảo.

Từ nét vẽ cơ bản chân dung thánh hiến trong Giáo Hội, chúng ta cùng nhau dùng gam màu của Tin Mừng, của Giáo Hội, của Đấng Sinh Thành, Hiến Luật và truyền thống tốt đẹp của tiền nhân trong Hội Dòng để tiếp tục làm rõ nét “Chân dung Thánh hiến” của chị em Mân Côi trong bối cảnh thời đại hôm nay.

CHÂN DUNG THÁNH HIẾN CỦA CHỊ EM MÂN CÔI

Đời sống thánh hiến của chị em Mân Côi khởi đi từ việc chị em ý thức mình thuộc về Thiên Chúa và thuộc về Giáo Hội qua bí tích Thánh Tẩy, thuộc về Hội Dòng qua việc tuyên khấn. “…bắt nguồn từ bí tích Thánh Tẩy. Bằng việc khấn dòng, chị em kết hiệp lễ dâng đời mình với hiến lễ của Đức Kitô, sống một đời khiết tịnh, nghèo khó và vâng phục. Nhờ đó chị em được hoàn toàn sống cho Thiên Chúa, và tự do phục vụ tha nhân với một tình yêu luôn rộng mở và trưởng thành”[7].

Tính thuộc về là chất liệu để vẽ nên chân dung người nữ tu Mân Côi chính hiệu, nếu không, bức chân dung sẽ mờ nhạt, biến dạng, hoặc khiếm khuyết.

Thuộc về Hội Dòng mang tước hiệu Mẹ Maria Mân Côi, chị em được mời gọi theo gương Mẹ sống nét đẹp của một tâm hồn chất chứa lời kinh Magnificat và lời kinh Fiat trong việc sống khiết tịnh, nghèo khó, vâng phục, hòa quyện cuộc đời mình vào mầu nhiệm đời Chúa Kitô nơi các mầu nhiệm kinh Mân Côi, như chỉ dẫn của Đức Cha Tổ Phụ: “Vì là Dòng Con Đức Mẹ Mân Côi, nên phải dậy cho chị em có lòng tôn sùng Đức Mẹ cách sốt sắng, biết lần hạt và suy ngắm những sự mầu nhiệm phép Rất Thánh Mân Côi cách ý tứ thâm trầm… năng nhắc cho chị em bắt chước các nhân đức của Đức Mẹ như: khó khăn, sạch sẽ, vâng lời, giữ gìn nết na, theo gương cách ăn, nết ở của Đức Mẹ xưa”[8].

Bên cạnh đó, chị em cũng được mời gọi cùng với Mẹ và xin sự bảo trợ của Mẹ để hân hoan mang vác và tung gieo ơn cứu độ của Chúa trên mọi nẻo đường hiến dâng phục vụ cho sứ vụ của Hội Dòng. “Trong đời sống thánh hiến, Đức Maria được gọi là người nữ tu đầu tiên của Thiên Chúa, …Mẹ là gương mẫu đầu tiên cho toàn thể Giáo Hội, thì Mẹ càng là gương mẫu đầu tiên cho những người và những cộng đoàn tận hiến trong lòng Giáo Hội. Chị em tin tưởng đặt nơi Mẹ niềm cậy trông và lòng hiếu thảo, để được Mẹ dẫn dắt trên nẻo đường đáp trả ơn gọi và tiến tới ngày một hơn trong việc sống sung mãn đời sống thánh hiến của mình”[9].

Yếu tố nền tảng của bất kỳ một ơn gọi nào cũng là Thiên Chúa mời gọi và con người đáp trả trong chính cuộc sống hiện sinh của mình. Với tính hiện sinh của lời đáp trả, chúng ta sẽ đề cập đến việc sống từng lời khuyên Phúc Âm: khiết tịnh, nghèo khó, vâng phục qua ba chiều kích: cá nhân, cộng đoàn và sứ vụ trong ơn gọi của người nữ tu Mân Côi.

I. ĐỨC KHIẾT TỊNH

Dựa vào Tin Mừng[10] và giáo huấn của Giáo Hội[11], Hiến Luật Dòng đã nêu lên giá trị của đời sống khiết tịnh như sau: “Đời sống khiết tịnh là một ân huệ cao quý Thiên Chúa ban, nhằm giải thoát tâm hồn và thanh luyện con tim khỏi mọi ràng buộc, để yêu mến Thiên Chúa và tha nhân cách trọn vẹn và nồng nàn hơn. Như vậy, đời sống khiết tịnh của chị em là một dấu chỉ về đời sống và kho tàng mai sau ở Nước Trời”[12]. Chúng ta cùng phác họa từng chiều kích của lời khấn này.

1. Chiều kích cá nhân

Khi sống đời độc thân khiết tịnh, chị em Mân Côi mang trong mình niềm xác tín: đức khiết tịnh là dấu chỉ hồng ân Thiên Chúa ban, là một mối phúc: “Phúc cho ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa”[13], và cũng là dấu chỉ cánh chung về Nước Trời đang hiện diện.

Thế nên tâm tình đầu tiên chị em cần có là hòa đời mình vào lời kinh Magnificat, cùng với Mẹ Maria tạ ơn Chúa với tâm tình hân hoan, khiêm tốn: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi. Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới”[14]. Niềm hoan lạc này được nối với nguồn sự sống viên mãn của Ngôi Lời Nhập Thể, để rồi trong từng nhịp sống của chị em, từ tư tưởng, ngôn từ, cung cách hiện diện và phục vụ, luôn toát lên niềm vui, niềm hoan lạc trường tồn; “sự vui vẻ thanh sạch là hình bóng nước Thiên đàng vì các Đấng trên trời hằng thanh nhàn vui vẻ” tạo nên một chân dung nữ tu Mân Côi tươi vui, truyền năng lượng tích cực và trở nên lời chúc phúc cho tha nhân như lời dạy của Đức Cha Tổ Phụ: “Tinh thần vui vẻ hằng vui vẻ với hết mọi người, làm cho mọi người xung quanh mình vui, …Một nữ tu có tinh thần vui vẻ cũng kéo lòng kẻ khác vui vẻ như mình”[15].

Qua lời cam kết khấn Dòng, “Chị em tự nguyện sống độc thân vì Nước Trời trong sự tiết chế hoàn toàn, để hiến dâng cho Thiên Chúa một tình yêu trọn vẹn không chia sẻ, và yêu thương mọi người bằng một tình yêu vị tha và cứu độ”[16]. Như vậy, khi khấn khiết tịnh, chị em khước từ đời sống hôn nhân và mọi mối tương quan mang tính độc chiếm để đáp trả một tình yêu lớn hơn là Thiên Chúa, rộng hơn là anh chị em đồng loại, bao gồm cả người nam và người nữ thuộc mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp, mọi nền văn hóa, tôn giáo; khước từ khả năng làm cha mẹ về mặt thể lý để hạ sinh những người con tinh thần trong mối tương quan sẻ chia, phục vụ; khước từ những thú vui nhục dục không chỉ trong hành vi mà cả trong tư tưởng và ước muốn, để tâm hồn được trong sạch, con tim được tự do phụng sự Thiên Chúa và phục vụ tha nhân bằng một tình yêu tròn đầy, thánh thiện.

Trong bối cảnh có nhiều “lực hấp dẫn” từ thế giới tục hóa, xã hội thực dụng, sự đa dạng của các phương tiện truyền thông, cùng với đó là sự giảm dần trong đời sống đức tin, mất cảm thức về tội, việc sống lời khấn khiết tịnh luôn là cuộc giằng co nội tâm. Bởi thế, chị em Mân Côi học theo gương Mẹ Maria “giữ nghĩa cùng Chúa” qua đời sống cầu nguyện, “hằng suy đi nghĩ lại trong lòng”[17] về cuộc đời và lời giảng dạy của Chúa Giêsu, để đời sống khiết tịnh của Người thu hút lòng trí chị em, giúp chị em tiến đến sự trọn lành là chu toàn mọi bổn phận trần thế trong ý hướng làm cho “Danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến”; thường xuyên nhận lãnh nguồn ơn thiêng từ các bí tích để tâm hồn được bình an, hoan lạc; lấp đầy mọi khoảng trống trong tâm hồn bằng lời kinh Kính Mừng Mẹ, cộng tác với ân sủng Chúa bằng cách mang chiếc áo giáp của đức tự chủ, vì người không biết tự chủ ví như thành bỏ ngỏ, không tường lũy chở che”[18]. Với chị em Mân Côi, đỉnh cao của đức tự chủ là gắn kết đời mình với mầu nhiệm thứ 5 mùa Thương, mà theo thánh Phanxicô Salêsiô là “đồng hóa mình với Chúa Giêsu bị đóng đinh trên Thánh Giá, tức là khắc chế cá nhân trong ngoài đầy đủ”.

Chúng ta cũng nên nhắc lại khái niệm về đức tự chủ để thấy nhân đức này thật quan trọng cho những tâm hồn muốn nên trọn lành trong bậc sống độc thân khiết tịnh. Theo tự điển Công Giáo, tự chủ là khả năng đặt những ý muốn của mình dưới sự kiểm soát của ý chí đã được lý trí và đức tin soi sáng. Đây là một nhân đức giúp kiểm soát dục vọng, điều hòa lý trí và điều chỉnh nhân cách không để bị thống trị bởi ham muốn giác quan[19]. Như thế, đức tự chủ sẽ giúp chị em không chỉ giữ ngũ quan, giữ kỷ luật và nội vi tu viện ấn định, nhưng còn giúp chị em có khả năng kiến tạo một không gian nội vi tâm hồn, ở nơi đó chị em tập chú vào mối tương quan với Thiên Chúa là Đấng hiện diện “từ muôn thuở cho đến muôn đời”.

Tóm lại, “Để có thể trung thành với đời sống khiết tịnh, chị em phải chuyên cần thực hành những phương thế siêu nhiên: luôn cậy dựa vào ơn Chúa, siêng năng cầu nguyện và lãnh nhận các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể; suy niệm và chiêm ngắm các mầu nhiệm cuộc đời Chúa Kitô; tôn sùng Đức Trinh Nữ Maria, và thực thi các việc hy sinh khổ chế”[20].

2. Chiều kích cộng đoàn

“Đời độc thân thánh hiến của chị em được thực hiện trong cộng đoàn. Điều này đòi chị em phải nỗ lực xây dựng một tình bác ái cộng đoàn, nhờ đó mỗi người cảm nhận được sự yêu thương nâng đỡ để phát triển con người toàn diện. Như vậy, cộng đoàn giúp chị em lớn lên trong tình yêu, và trưởng thành trong những tương quan với mọi người”[21].

Khoản luật trên cho chúng ta thấy khía cạnh tích cực của đời độc thân thánh hiến, đó là trở nên những con người yêu thương (hơn là chuyện từ khước tính dục). Tình yêu thương này đặt nền trên tình yêu Thiên Chúa, và được cụ thể hóa trong nếp sống cộng đoàn. Như cộng đoàn các môn đệ xưa, cộng đoàn của chị em Mân Côi không do chọn lựa, nhưng được Chúa mời gọi từng người, mang từng ngôi vị khác nhau về gia cảnh, tập tục, văn hóa, tuổi tác, khả năng, tính tình, kinh nghiệm và quan niệm sống… để thực hiện lý tưởng bước theo sát Chúa. Việc chị em đáp lại lời mời gọi của Chúa đồng nghĩa với việc chị em chấp nhận thuộc về Hội Dòng, gắn đời mình với cuộc đời các thành viên trong Hội Dòng bằng chất keo Đức Ái trong các chiều kích hiện diện theo mẫu gương hiện diện của Mẹ Maria:

- Sự hiện diện tích cực trong các mối tương quan[22] (mầu nhiệm thứ 2 mùa Vui): khởi đi từ những điều đơn giản nhất như chào thăm nhau bằng lời lẽ đơn sơ, chân thành, lịch sự, để niềm vui của những Êlizabeth trong cộng đoàn được nên trọn; khuyến khích và tạ ơn về những ân ban của chị em, “Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc”; can đảm vượt ra khỏi mình, hy sinh phục vụ cho cộng đoàn “Dacaria và Êlizaeth” của mình, thấu hiểu được giới hạn của chị em trong niềm tin vào sự trợ giúp của ơn thánh, “…bà Êlizabeth, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà vẫn đang cưu mang một người con trai…”; tôn trọng và yêu thương chị em với sự tự do nội tâm: không tìm cách chiếm hữu ai, và một cách nào đó, cũng không để cho người chị em nào trong cộng đoàn chiếm hữu mình. Hình ảnh Đức Maria ‘trở về nhà’ sau ba tháng giúp chị Êlizabeth là biểu trưng cho nét đẹp của một con tim yêu thương tự do. Về điểm này, Thánh bộ Đời sống thánh hiến và Tu đoàn Tông đồ mời gọi các tu sĩ “trau dồi những đức tính cần có trong tất cả các mối quan hệ nhân bản: tinh thần hợp nhất, sự kính trọng, lòng tốt, sự chân thành, tự kiềm chế, lịch thiệp, biết khôi hài và tinh thần chia sẻ”[23].

- Sự hiện diện mang tính trung gian nối kết giữa Chúa Giêsu và cộng đoàn (mầu nhiệm thứ 2 mùa Sáng): nhạy bén và âm thầm chuyển các nhu cầu “hết rượu” của cộng đoàn và của chị em lên Chúa Giêsu trong niềm tin tưởng “không có gì mà Thiên Chúa không thể làm được”[24]. Đồng thời, cộng tác với ơn Chúa và có trách nhiệm tìm ra phương cách nâng đỡ nhau trong lúc những gặp khó khăn thử thách, sao cho đúng thời, đúng nơi, đúng người như sự việc Thân mẫu Người nói với gia nhân: Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo[25]. Những nghĩa cử giúp đỡ tinh tế và âm thầm sẽ tạo nên ký ức hạnh phúc cho tâm hồn từng chị em, làm cho bầu khí cộng đoàn vui tươi, nó có sức lôi cuốn chị em ‘ở lại’ trong ơn gọi vì được tác động từ bên trong, khởi đi từ việc đưa mọi thành viên trong cộng đoàn tiếp cận với Đức Giêsu Kitô - Đấng là trung tâm của lịch sử nhân loại. Huấn thị “Đời sống Huynh đệ trong cộng đoàn” số 28 khẳng định rằng: “Tình huynh đệ không có niềm vui là tình huynh đệ đang chết; sớm muộn, các thành viên sẽ bị cám dỗ đi tìm ở bất cứ nơi đâu khác điều mà họ không tìm thấy trong cộng đoàn của mình”.

Nếu mỗi chị em Mân Côi sống tròn đầy hai sự hiện diện trên, sẽ mang lại hiệu quả chứng tá về một cộng đoàn hiện diện bình an, hoan lạc trong sự cảm nếm: “Nơi đây ân huệ Chúa ban, chính là sự sống chứa chan muôn đời”[26]. Từ đó, chị em sẽ ngày càng gắn bó với nhau và với cộng đoàn, thế hệ đi trước trở nên ‘người dẫn lối’ uy tín, thế hệ đi sau tiếp bước trong hân hoan, nhiệt huyết, làm nên một cộng đoàn được thôi thúc lưu truyền ân huệ Đoàn sủng và các truyền thống tốt đẹp của Hội Dòng cho các thế hệ mai sau.

3. Chiều kích sứ vụ

Khi thi hành sứ vụ, với ơn Chúa ban ngang qua lời khấn khiết tịnh, cùng với việc thao luyện sự trưởng thành tâm cảm, chị em Mân Côi sẽ có khả năng đi vào tương giao với hết mọi người, cả nam cũng như nữ, bằng tình yêu xả kỷ, quảng đại và quên mình, vì: “Tình yêu dành cho Chúa Kitô, khi đổ tràn vào hành vi hiến thân cho tha nhân, sẽ trở thành yếu tố quan trọng nhất để đạt tới sự trưởng thành tình cảm”[27].

Đời sống độc thân khiết tịnh là một ân huệ của Thiên Chúa. Lời ngợi ca “Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả” của Chị em Mân Côi vang lên mỗi ngày, là một chứng tá rõ nhất cho sự hiện hiện của ơn Chúa trong thế giới hôm nay - một thế giới xem việc sống khiết tịnh là không thể, thì việc vui vẻ thực hành đức khiết tịnh hoàn hảo loé sáng như một “chứng tá về quyền năng của Thiên Chúa trong sự mỏng dòn mong manh của phận người”[28]. Trong Tông thư gửi các người thánh hiến, Đức Thánh Cha Phanxicô nói: “Đâu có các tu sĩ thì có niềm vui. Chúng ta được mời gọi cảm nghiệm và chứng tỏ rằng Thiên Chúa có khả năng lấp đầy con tim của chúng ta và làm cho chúng ta được hạnh phúc, không cần phải đi tìm hạnh phúc ở đâu khác; chứng tỏ rằng tình huynh đệ chân chính sống trong các cộng đoàn của chúng ta nuôi dưỡng niềm vui; chứng tỏ rằng sự tận hiến để phục vụ Giáo Hội, các gia đình, các người trẻ, các người già, các người nghèo giúp cho chúng ta đạt được sự thành tựu bản thân và mang lại ý nghĩa trọn vẹn cho cuộc đời”.

Bên cạnh đó, đời sống khiết tịnh của chị em còn là một dấu chỉ cánh chung về Nước Trời đang hiện diện, vì chị em có thể yêu thương thực sự mà không cần đến một biểu hiện của tình yêu đó là thỏa mãn nhục dục, nhưng vẫn có khả năng truyền sinh khi dấn thân cho các sứ vụ của Hội Dòng:

Chuỗi hạt Vui thấm nhuần đời dâng hiến

Đến với đời gieo mầm sống Giêsu.

…..

Chuỗi hạt Sáng song hành đời dâng hiến

Gieo hạt Lời với lòng Cậy Tin Yêu.

Qua sứ vụ giáo dục, chị em giúp cho từng lớp lớp người được sinh ra và lớn lên về nhân cách, tri thức, đời sống đạo đức; với sứ vụ y tế, chị em giúp cho những người mình phục vụ được ‘tái sinh’ sự sống thể xác, tinh thần và tâm linh; nơi sứ vụ tông đồ truyền giáo và bác ái xã hội, chị em trao ban cho nhân loại niềm hy vọng về một “Đức Kitô đang sống” - Đấng đi tới đâu là thi ân giáng phúc và chữa lành đến đó.

Như vậy, “Với một tình yêu rộng mở và đời sống phục vụ trong vui tươi hạnh phúc, chị em chứng tỏ cho mọi người thấy rằng đời sống khiết tịnh vì Nước Trời giúp chị em sống quân bình, phát triển nhân cách, và có khả năng yêu thương hết mọi người bằng tình yêu rộng mở của Chúa Giêsu. Nhờ vậy, chị em được hoàn toàn tự do phục vụ Tin Mừng, và gặt hái được những hoa trái thiêng liêng trong việc tông đồ”[29].

II. ĐỨC NGHÈO KHÓ

Giáo Hội đã chỉ dẫn việc sống nghèo khó như sau: “Lời khuyên Phúc Âm về đức nghèo khó theo gương Đức Kitô là Đấng từ chỗ giàu sang đã trở nên nghèo khó vì chúng ta, ngoài một nếp sống nghèo khó trong thực tế và trong tinh thần, cần cù và đạm bạc, thanh thoát với của cải thế gian, còn bao hàm sự lệ thuộc và hạn chế trong việc sử dụng và định đoạt tài sản chiếu theo quy tắc luật riêng của mỗi tu hội”[30].

Với lời tuyên khấn “…quyết tâm tận hiến đời con cho Chúa, và nguyện suốt đời bước theo sát Chúa Kitô hơn”[31], chị em Mân Côi tự nguyện tham dự vào nếp sống nghèo của Chúa Giêsu, như phương tiện tiến đến Đức Ái trọn hảo.

1. Chiều kích cá nhân

Một trong những yêu sách đầu tiên của việc sống nghèo khó theo giá trị Tin Mừng là từ bỏ. Không phải từ bỏ chút chút, nhưng là từ bỏ mọi sự. Chúa Giêsu quả quyết điều này khi nói: “Ai trong các con không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ Thầy”[32]. Mục đích của từ bỏ là để người môn đệ được thanh thoát cõi lòng với những của cải và sự vật trần thế, tâm hồn được tự do hướng về kho tàng vĩnh cửu trên trời là chính Chúa.

Từ nền tảng từ bỏ của người môn đệ theo Chúa, với chị em Mân Côi, “Khấn nghèo khó, chị em từ bỏ quyền tự do sử dụng và định đoạt về của cải vật chất, chấp nhận sự hạn chế và lệ thuộc Bề trên cũng như Hội Dòng trong việc sử dụng tiền của”[33].

Khoản luật trên mời gọi chị em thực hành khổ chế trong cách dùng của cải và khổ chế trong việc bỏ ý riêng. Khổ chế để mở ra với chính mình, vươn lên thông hiệp với Chúa cũng như với đồng loại. Đức Cha Tổ Phụ đã chỉ dạy cặn kẽ về sự khổ chế này như sau:

“Chớ để trí đến tiền bạc, đã vào Dòng thì đã có Chúa lo; chớ hề để trí về của ăn, áo mặc, đồ dùng; nhà Dòng nuôi làm sao, cho mặc thể nào, cho dùng đồ gì, thì cám ơn và vui lòng làm như vậy… chớ hề chiều theo tính hư xác thịt, mà phàn nàn, năn nỉ…”. “Đức khó khăn ở tại sự dứt tình yêu chuộng của cải thế gian, rủi có mất đi hay bề trên không cho dùng nữa, thì cũng vui lòng chịu”[34].

Xã hội tiêu thụ hiện đại đang đề cao giá trị tiền bạc, hưởng thụ, quyền lực, nên sự khổ chế trong cách dùng của cải và từ bỏ ý riêng chỉ thực hiện được cách bền bỉ theo suốt năm tháng đời tu, dù trong độ tuổi nào, cương vị nào, môi trường nào, khi chị em thực lòng sống khiêm nhường và luôn cậy trông tín thác vào Chúa.

Ngoài sự từ bỏ của cải vật chất và sống theo sự định đoạt của bề trên và cộng đoàn, chị em Mân Côi được mời gọi sống cái nghèo tự hủy của Chúa, được thánh Phaolô tóm tắt trong Pl 2, 5-8 và được diễn tả cách thâm thúy qua các mầu nhiệm kinh Mân Côi, đặc biệt nơi mùa Vui, mùa Sáng và mùa Thương[35]: Chúa Giêsu vốn dĩ là Thiên Chúa, nhưng đã nhập thể là người nghèo, nhập thế trong cảnh nghèo, rao giảng Tin mừng cho người nghèo, chết như một người nghèo. Khi tháp nhập đời mình vào mầu nhiệm tự hủy của Chúa Giêsu, chị em được mời gọi sống không chỉ là cái nghèo trong sở hữu, mà còn là cái nghèo trong chính hiện hữu của đời dâng hiến, nghĩa là chẳng những không có mà còn không ham muốn tiền bạc, của cải, chức quyền, địa vị, tiện nghi, lợi lộc trần gian… ngõ hầu tinh thần được thanh thản hơn trong việc theo đuổi các giá trị siêu việt (mầu nhiệm thứ hai mùa Mừng).

Khi sống cái nghèo hiện hữu, chị em sẽ hài lòng và bình an nếu phải sống trong môi trường thiếu thốn; sẽ không dính bén đến các đồ vật đang hưởng dùng, sẽ chỉ mua những gì mình cần chứ không phải mua những gì mình muốn… Trong mọi hoàn cảnh, tâm hồn luôn được tự do: “Tôi sống thiếu thốn cũng được, mà sống dư dật cũng được. Trong mọi hoàn cảnh, no hay đói, dư dật hay túng bấn, tôi đã tập quen cả”[36] (mầu nhiệm thứ ba mùa Vui).

Nếp sống nghèo hiện hữu sẽ không có chỗ cho các nhu cầu giả được ẩn dấu với các mỹ từ: phương tiện phục vụ cho sứ vụ; sức khỏe cần cho học hành, làm việc; y phục xứng kỳ đức… Đức Cha Tổ Phụ đã thẳng thắn đặt tên cho nhu cầu giả này, đó là nương theo cái lý của ma quỷ: “Ma quỷ hay vịn lẽ rằng, phải nuôi mình cho khỏe mà học hành, mới có thể làm việc bổn phận được”[37].

Nghèo hiện hữu là khiêm tốn chấp nhận những giới hạn của mình: khả năng, sức khỏe, tuổi tác…, trông chờ vào sự quan phòng của Thiên Chúa và sự giúp đỡ của tha nhân; đồng thời sống thật với con người của mình, không làm bộ tỏ ra nghèo túng để tăng thêm uy tín cho mình, không đi tìm ‘tầm ảnh hưởng’ nơi các công việc mình làm…

Mẹ Maria là mẫu gương sống động cho chị em trong lối sống nghèo hiện hữu: Mẹ nhận biết mình chỉ là ‘nữ tỳ’ của Chúa, khiêm tốn từ bỏ quyền làm chủ, quyền định đoạt, sống tâm tình của một người nghèo, nghèo trong chính bản thể của Mẹ để sẵn sàng mở lòng đón nhận kho tàng đích thực là chính Chúa (mầu nhiệm thứ nhất mùa Vui).

Như vậy, khi sống cái nghèo hiện hữu, chị em chắc chắn sẽ được hưởng vương quốc Nước Trời như lời Chúa Giêsu hứa: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ”[38].

2. Chiều kích cộng đoàn

Gương sống và lời giảng của Đức Giêsu về giá trị của sự khó nghèo trong Nước Chúa được cộng đoàn tiên khởi tại Giêrusalem mang ra thi hành với ý hướng diễn tả tình yêu, sự thông hiệp, sự chia sẻ liên đới. Noi gương cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi, chị em Mân Côi sống nghèo khó bằng cách đóng góp mọi của cải vật chất và tinh thần vào cộng đoàn. Việc này, một mặt biểu lộ sự thanh thoát khỏi ràng buộc vật chất, mặt khác, diễn tả chiều kích Đức Ái của tình hiệp thông, hoàn toàn dấn thân chia sẻ cho nhau tất cả khát vọng, tâm tình, lẽ sống của mình. Nội Quy Dòng, số 22 nói: “Theo tinh thần đức nghèo khó, chị em để mọi sự làm quỹ chung, chia sẻ cùng một nếp sống, và vui lòng đón nhận những gì cộng đoàn cung cấp, những nhu cầu về đời sống, về lương thực, y phục, nhà cửa”.

Sự khổ chế đưa mình vào nếp sống kỷ luật của cộng đoàn vẫn là yêu sách hàng đầu của việc thực hành đức nghèo khó trong cộng đoàn, vì đòi hỏi mỗi thành viên phải khiêm tốn đặt mình trong một giới hạn, có tinh thần tùy thuộc cộng đoàn, từ bỏ ý riêng, nhắm đến lợi ích chung để phát triển cộng đoàn, đó là con đường Chúa muốn chị em nên hoàn thiện, “Chúa chọn ta vào Dòng và ở đó ta lo giữ luật phép cho trọn mà nên thánh thiện một ngày một hơn”[39].

“Noi gương Thánh Gia Nazareth, chị em biểu lộ cách cụ thể đức nghèo khó Phúc Âm qua lao động hằng ngày…, sống cần cù và thanh đạm trong niềm tín thác vào sự quan phòng của Thiên Chúa”[40].

Lao động, đó là nếp sống cụ thể của người nghèo, “Chính Con Thiên Chúa khi nhập thể, một cách nào đó đã kết hợp với tất cả mọi người. Người đã làm việc với bàn tay con người, đã suy nghĩ bằng trí óc con người, đã hành động với ý chí con người, đã yêu mến bằng quả tim con người”[41]. Lao động trong đời sống thánh hiến, không chỉ nhằm hòa đồng vào cuộc sống người nghèo, nhưng còn làm chứng về ý nghĩa nhân bản của lao động mà Đức Kitô đã mang lại.

Đức nghèo khó mời gọi chị em trong phận vụ riêng của mỗi người, tận tâm lao động bằng chính sức lực, thời giờ, khả năng, nghiệp vụ chuyên môn và đôi bàn tay của mình để chia sẻ tài chánh với cộng đoàn, với những người xung quanh trong tinh thần phó thác vào tình yêu quan phòng của Cha Trên Trời. “Mọi chị em, theo phần mình, đều có trách nhiệm về lối sống nghèo khó của cộng đoàn…”[42]. Bên cạnh đó, tinh thần đức khó nghèo cũng mời gọi chị em đón nhận hồng ân Chúa ban cho các chị em khác trong cộng đoàn, khuyến khích và quý trọng công sức lao động của nhau, đặc biệt với những chị em nghèo khả năng, nghèo sức khỏe, nghèo tình thương…

3. Chiều kích sứ vụ

“Chị em Mân Côi làm chứng về đức nghèo khó bằng nếp sống đơn sơ, vui tươi và siêu thoát, qua đó mọi người sẽ nhận ra giá trị của đức nghèo khó Phúc Âm và những giá trị vĩnh cửu đời sau”[43].

Sống trong một xã hội tiêu thụ, con người luôn bị thúc đẩy thủ đắc và tích trữ nhiều của cải, sự hiện diện an vui trong nếp sống đơn sơ và thanh thoát của chị em Mân Côi “giữa thế gian” sẽ là tấm gương sáng cho tha nhân về một lối sống tự do thanh thoát đối với tài sản trần thế để hướng về kho tàng trên trời.

Ngoài sự hiện diện chứng tá, tinh thần của lời khấn nghèo khó còn mời gọi chị em quan tâm, yêu thương người nghèo bằng hành động dấn thân cụ thể theo gương Đức Kitô - Đấng đã đến không phải để được phục vụ nhưng để phục vụ. Một tình yêu chân thật cùng với khát vọng đem lại thiện ích cho người khác sẽ giúp cho chị em có cảm thức thuộc về những người mình phục vụ. Cảm thức này thôi thúc chị em dấn thân, tận tâm và sáng tạo trong việc tông đồ để phục vụ tốt hơn.

Đức Thánh Cha Phanxicô trong bài giảng lễ ngày quốc tế người nghèo 20-11-2017 khẳng định: Giáo Hội Công Giáo là Giáo Hội của người nghèo. Sống đồng cảm, chia sẻ với những người nghèo không những về nhu cầu vật chất, mà thông qua những dịp tiếp xúc, gặp gỡ, hòa mình cùng chung chia cuộc sống nghèo, không thờ ơ trước nỗi đau khổ của họ, chúng ta tìm cách thăng tiến phẩm giá của họ, đem Lời Chúa đến với họ bằng chính lối sống nghèo chứng tá của mình.

Với cái nhìn tích cực, sự hiện diện của người nghèo chính là món quà Chúa gửi đến giúp chị em có cơ hội thực thi sứ vụ, chu toàn trách nhiệm của một người thánh hiến. Như thế, cái nghèo trở thành cầu nối cho chị em gặp gỡ Chúa Kitô nơi người nghèo, chia sẻ với họ niềm vui được làm con Chúa và sống huynh đệ với nhau. Người nghèo là nhân tố giúp chị em hoàn thiện ơn gọi của mình cách tròn đầy.

III. ĐỨC VÂNG PHỤC

“Chúa Giêsu đến trần gian không phải để làm theo ý riêng mình nhưng là để thực thi thánh ý Thiên Chúa. Người cứu độ thế giới bằng sự vâng phục Chúa Cha, để từ nay, đức vâng phục vì tình yêu là nền tảng cho tất cả đời sống và sự phục vụ của Giáo Hội cũng như của các Kitô hữu”[44].

Với khao khát nên hoàn thiện, chị em Mân Côi dâng hiến tự do và ý chí để họa lại cuộc đời và tiếp tục sứ mạng của Chúa Giêsu, Đấng đã luôn làm theo ý Cha, vâng phục Cha cho tới mức tự hiến mình trên thập tự, vì yêu nhân loại và muốn nhân loại được cứu độ. Bên cạnh đó, chị em cũng được mời gọi theo gương Mẹ Maria, sống lời “xin vâng” cách tích cực và đầy trách nhiệm trong mọi khía cạnh của đời dâng hiến.

1. Chiều kích cá nhân

“Noi gương chí hiếu và muốn theo sát Chúa Kitô, chị em Mân Côi sống vâng phục trong hành vi tự hiến, hiệp nhất ý chí mình với thánh ý Chúa Cha trong tâm tình yêu mến và tôn thờ, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần”[45].

- Hành vi tự hiến của đức vâng phục là từ bỏ ý riêng: Khi cam kết sống vâng phục, chị em Mân Côi vừa noi gương, vừa tham gia vào sự vâng phục của Chúa Giêsu. Sự vâng phục này mang lại giá trị cứu độ vì chị em tận hiến ý muốn riêng của mình trong mọi khía cạnh cuộc sống, như của lễ dâng lên Thiên Chúa, nhờ đó chị em được kết hợp với ý muốn cứu rỗi của Ngài cách kiên trì và chắc chắn, như lời Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nói trong Tông huấn ‘Hồng Ân Cứu Chuộc’ số 13: “Mọi công việc của tu sĩ chỉ có giá trị cứu rỗi khi được làm trong đức vâng phục”.

- Động lực của sự vâng phục là yêu mến và làm hài lòng Chúa Cha: Đây là cách thức Chúa Giêsu đã sống trong suốt cuộc đời trần thế của Người: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Ðấng đã sai Thầy”[46]“Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài[47]; trước giờ bước vào cuộc tử nạn, Người cũng vẫn “xin đừng theo ý con, mà là ý Cha”[48]. Với thiện ý noi gương Chúa Giêsu, đến lượt mình, mỗi ngày khi dâng lời kinh “Tận Hiến”, chị em Mân Côi hướng về Mẹ Maria với tâm tình khấn nguyện: “Xin cho chúng con biết noi gương Chúa Giêsu: chu toàn ý Cha trong cuộc sống và đồng hành với Người trong cuộc khổ nạn, để cùng được phục sinh vinh hiển với Người”. Lời kinh này đi vào cuộc sống của chị em và được thể hiện qua các hình thức vâng phục:

+ Mau mắn trong thời gian và cách thức thực hiện một công việc hay trách nhiệm được giao bằng sự năng động của sức lực, năng lực, năng khiếu và ơn Chúa ban.

+ Nội tâm sẵn sàng trước mọi lệnh truyền đến từ luật Chúa, luật Tin Mừng, luật Hội Thánh, luật Hội Dòng và ý muốn của Bề trên hợp pháp, trong thái độ tin yêu, hiệp nhất, bác ái, khiêm hạ, và với tâm nguyện: lại vì Chúa thì con vâng phục ý Bề trên như ý Chúa vậy.

Hiến Luật Dòng số 13.1 đã phác họa chân dung người nữ tu Mân Côi sống vâng phục như sau: “Cùng với Mẹ Maria, chị em Mân Côi tự nguyện bước theo Chúa Kitô trên con đường vâng phục, mặc dù có nhiều gian nan thử thách. Với đức tin mạnh mẽ, chị em nhận ra ý muốn của Chúa qua các lệnh truyền của các Bề trên, sống vâng phục với lòng yêu mến và tự do nội tâm đích thực; dùng tất cả năng lực trí tuệ, ý muốn và khả năng để chu toàn một cách hiệu quả nhất mọi phận vụ đã được ủy thác, vì biết rằng mình đang góp công xây dựng Nhiệm Thể Chúa Kitô theo ý định của Thiên Chúa”.

2. Chiều kích cộng đoàn

Đức vâng phục được sống và thể hiện trong khung cảnh cộng đoàn.

Trước nhất, “Chị em tự nguyện vâng phục các Bề trên hợp pháp, khi các ngài thay mặt Chúa truyền dạy điều hợp pháp với luật Dòng”[49]. Hành vi vâng phục này phát sinh từ sự khiêm nhường tùng phục, tức là sự kính phục dựa trên đức tin, đón nhận những gì được giao phó như một biểu hiện của tình yêu. Chính tình yêu giúp chị em vâng phục cách tích cực. Vâng phục trở thành một hành vi thờ phượng vì được quy hướng về Thiên Chúa - Đấng được nhìn nhận qua trung gian Bề trên, như lời huấn dụ của Đức Cha Tổ phụ: “Đức Chúa Trời chẳng hiện ra mà phán bảo trực tiếp với ta, Ngài dùng miệng các đấng bề trên mà phán dạy, nên khi ta vâng lời bề trên ấy là vâng lời vậy”[50]. Như vậy, khi vâng phục, chị em tỏ ra mềm mại trước Chúa Thánh Thần, Đấng hoạt động qua cộng đoàn và bề trên, cũng là cách chị em chia sẻ trách nhiệm với Bề trên và Hội Dòng: Tôi vâng phục vì tôi muốn cộng tác vào định hướng của Hội Dòng; tôi vâng phục vì tôi muốn làm phong phú hóa Đặc sủng của Hội Dòng; tôi vâng phục vì tôi muốn chung chia sứ mạng với Hội Dòng…

Thứ đến, vâng phục còn là đón nhận những chị em Chúa gửi đến cho cộng đoàn qua trung gian Bề trên, để tất cả cùng sống với nhau, cùng nhau phân định, đối thoại để dò tìm ý Chúa, cùng nhau thực thi sứ vụ và những dự phóng của cộng đoàn trong tinh thần liên đới, hiệp thông nên “một lòng một ý”. Việc thi hành lời khấn vâng phục như thế không phải là thi hành những dòng chữ chết, nhưng mang tính năng động, từng chị em mở lòng đón nhận thánh ý Chúa qua các biến cố, các đổi thay về nhân sự, sứ vụ, và những đòi hỏi riêng của từng hoàn cảnh hay môi trường sống. Theo nghĩa này, vâng phục, ngoài sự tuân theo luật là một hình thức, còn là vâng phục cộng đoàn. Vâng phục lẫn nhau trên mảnh đất khiêm hạ và tin yêu của cộng đoàn, sẽ làm cho hạt giống đồng trách nhiệm về Đoàn sủng Dòng được trổ sinh và triển nở mãi mãi.

3. Chiều kích sứ vụ

Đức vâng phục của chị em được thể hiện trong đời tu bằng sự vâng lời các người đại diện Chúa hướng dẫn Hội Dòng. Sự vâng phục ấy là điều kiện thiết yếu giúp thống nhất ý chí và đường lối hoạt động, trong việc thực thi sứ vụ của Hội Dòng. Do hiệu lực của lời khấn vâng phục, chị em chia sẻ sứ vụ của Hội Dòng, sẵn sàng đón nhận lệnh “sai đi” trong những công việc tông đồ được trao phó”[51].

Chị em Mân Côi bày tỏ đức vâng phục của mình qua việc tháp nhập vào việc tuân phục của Chúa Kitô khi tiếp nhận việc sai đi để thể hiện ý muốn cứu độ của Thiên Chúa trong thế giới, “Thiên Chúa muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý”[52]. Với niềm tin, tình mến và lòng cậy trông vào sự quan phòng của Thiên Chúa, chị em sẵn sàng đón nhận bài sai từ những người đại diện Chúa, đến ‘miền đất hứa’ để thực thi sứ vụ của Hội Dòng. Nơi ấy có thể là miền đất ‘tràn trề sữa và mật’ của những thuận lợi trong tương quan và công việc, cũng có thể là miền đất toàn sỏi đá của bao khó khăn nội tại và ngoại tại. Lúc này, sự vâng phục của chị em là bắt ý chí mình thuộc về miền đấy ấy (không mơ tưởng đến các miền đất khác), để toàn tâm toàn ý chu toàn sứ vụ Chúa trao với sức năng động của tình yêu, lòng nhiệt thành, khả năng sáng tạo và tinh thần trách nhiệm.

Đức Cha Tổ Phụ đã chỉ dạy chị em khi thực hành đức vâng phục như sau: “Hãy để cho bề trên được thong dong định đoạt về ta. Người dạy làm việc, người bảo thôi khi nào, người bảo đi đâu, ở đâu thì cũng phải vâng ngay, không được xét việc nọ là hơn, việc kia là kém, nơi này là sướng, là vui, nơi kia là buồn, là khổ. Ta chỉ biết thưa rằng: “Bề trên dạy con làm gì, đi đâu, ở đâu, con cũng xin vâng vui lòng”[53].

KẾT LUẬN

Hằng năm, khi tham dự thánh lễ tạ ơn khấn Dòng, chị em Mân Côi thường được nghe vị chủ tế thẩm vấn các khấn sinh: Các con có muốn nhờ ơn Chúa giúp, ôm ấp và tuân giữ trọn đời nếp sống Khiết tịnh, Nghèo khó và Vâng phục hoàn hảo, mà Đức Kitô và Đức Trinh Nữ Maria Mẹ Người đã chọn không? Lời thẩm vấn chắc hẳn không chỉ dành riêng cho đối tượng tuyên khấn, nhưng còn là bài trắc nghiệm cho những trái tim cùng nhịp đập trong ơn gọi Mân Côi đã một lần đáp: Thưa con muốn.

Thưa ‘con muốn’ - lời đáp trả một lần cho cả đời, nói lên trách nhiệm tự do cá nhân, trách nhiệm này được thành toàn trong sự ý thức và xác tín: nhờ ơn Chúa giúp. “Không có gì mà Thiên Chúa không làm được”[54]. Đó là nét đẹp của sự khiêm hạ, tin yêu, phó thác.

Thưa ‘con muốn’ - lời đáp trả nói lên nỗi khát mong luôn ôm ấp lý tưởng cao đẹp: bước theo Chúa Giêsu trong nếp sống khiết tịnh, nghèo khó và vâng phục trong các chiều kích: cá nhân, cộng đoàn và sứ vụ, như để giới thiệu cho thế giới thấy nét đẹp của những tâm hồn đang được hưởng sự tự do của con cái Thiên Chúa và niềm vui sống theo các mối phúc Tin Mừng[55]

Thưa ‘con muốn’ - lời đáp trả mang tính quyết tâm dâng hiến cuộc đời cho Chúa theo gương Mẹ Maria, tạo nên nét đẹp của nẻo đường nên thánh và truyền giáo trong Đoàn sủng Mân Côi. “Với tinh thần Đức Ái trọn hảo, chị em Mân Côi cùng Mẹ Maria Mân Côi sống mầu nhiệm cứu độ và mang ơn cứu độ đến cho mọi người”.

Thưa ‘con muốn’ - lời đáp trả diễn tả tâm tình tri ân cảm mến về hồng ân biệt chọn, và nguyện hứa “chăm lo để luôn bền đỗ trong ơn thiên triệu Chúa đã trao ban, và thăng tiến luôn mãi để làm cho sự thánh thiện của Giáo Hội nên phong phú hơn”[56]. Đó là nét đẹp của sự thảo hiếu và nỗ lực trung tín sống thánh.

Thật vậy, yếu tố nền tảng của bất kỳ một ơn gọi nào cũng là Thiên Chúa mời gọi và con người đáp trả trong chính cuộc sống hiện sinh của mình. Ngược dòng thời gian nhìn về lịch sử 75 năm Hội Dòng hình thành và lớn lên trong Giáo Hội, chúng ta sẽ nghiệm thấy lời đáp trả mang tính hiện sinh của từng chị, từng em trong dòng tộc Mân Côi là thể nào, bởi bối cảnh lịch sử của thế giới và dân tộc trong hơn bảy thập niên qua có quá nhiều đổi thay, chính lời đáp trả có sức năng động trong ý chí, tự do, đức tin, lòng mến, lòng trông cậy của bao thế hệ đã và đang dấn thân trong ơn gọi Mân Côi, làm thành chân dung người nữ tu Mân Côi hôm nay. Ước mong dấu ấn của Năm Thánh Tri Ân sẽ giúp cho từng chị em Mân Côi nhìn lại chân dung thánh hiến của mình, để luôn gìn giữ nét đẹp tinh khôi của Đoàn sủng Đấng Sáng Lập, và tiếp tục làm cho nét đẹp căn tính Mân Côi được phù hợp trong mọi nơi, với mọi người.

Nt. M. Têrêsa Diễm Hạnh, FMSR.

 


[1] Tv 119, 73

[2] GL 573 §1

[3] “Nét đẹp của đời tu Mân Côi”, Lời giới thiệu

[4] Ga 15, 16a

[5] x. GL 607 §1

[6] x. GH 44

[7] HLD 5.2

[8] NVBT: Đoạn II, số II, 6; GSD I, tr.167

[9] HLD 5.4

[10] Mt 19, 12

[11] x. DT 12

[12] HLD 6.1

[13] Mt 5, 8

[14] Lc 1, 47-48a

[15] VNTLG: Đoạn II, 8; GSD I, tr.194

[16] x. GLCG số 2349; HLD 6.3

[17] x. Lc 2, 19.51

[18] Cn 25, 28

[19] x. John A. Hardon, SJ, “Từ Điển Công Giáo Phổ Thông”, tr. 565

[20] HLD 7.1

[21] HLD 8.1

[22] Lc 1, 36-42

[23] HĐ 27

[24] Lc 1, 37

[25] Ga 2, 5

[26] Tv 132, 3b

[27] Tông huấn “Pastores Dabo Vobis”, số 44

[28] TH 88

[29] HLD 6.2

[30] GL 600

[31] Dòng Mân Côi Chí Hòa, “Nghi thức khấn Dòng”

[32] Lc 14, 33

[33] HLD 9.3

[34] VNTLG: Đoạn V, 6; GSD I, tr. 229-230

[35] x. Lc 2, 12; x. Mt 8, 19-20; x. Lc 4, 18

[36] Pl 4, 12-13

[37] VNTLG: Đoạn V, 6; GSD I, tr. 231

[38] Mt 5, 3

[39] GMCT: Đoạn III.2; GSD I, tr.333

[40] HLD 10.2

[41] MV 22

[42] HLD 11.2

[43] HLD 11.1

[44] HLD 12.1

[45] HLD 12.3

[46] Ga 4, 34

[47] Dt 10, 7

[48] Lc 22, 42

[49] HLD 12.5

[50] VNTLG: Đoạn V, 5; GSD I, tr. 227

[51] HLD 12.4 và 13.2

[52] 1Tm 2, 4

[53] VNTLG: Đoạn V, 5; GSD I, tr. 227

[54] Lc 1, 37

[55] x. XP 13

[56] GH 47

 

GiaoLy 2015Như thế, khi làm việc gì, mọi người đều hiểu chúng ta mang trong mình những dấu hiệu của cộng đoàn, hội dòng đã cưu mang chúng ta. Tháng này chúng ta cùng nhau tìm hiểu và sống chủ đề: ĐƯỢC SAI ĐI NHÂN DANH CỘNG ĐOÀN.

Sau khi các môn đệ đã có thời gian ở với Đức Giêsu, chia sẻ cuộc sống với Người, chứng kiến các việc Người làm, hiểu được sứ mạng của Người và nhất là trải nghiệm về cuộc thương khó và Phục Sinh của Người, Thánh Marcô thuật lại, Ngài sai các ông đi loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa: “ Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo” (Mc16,15). Từ lệnh truyền của Chúa Giêsu cho các tông đồ, Giáo Hội qua mọi thời đại luôn nhận lấy trách nhiệm lưu truyền Tin Mừng cho mọi thế hệ, theo cách thức Đức Giêsu đã làm là : lập nhóm Mười Hai, để các ông ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng (Mc 3, 14). Cách thức này được họa lại cách rõ nét qua các Hội Dòng, Tu hội, Tu đoàn…Tuy khác về Đoàn sủng, nhưng căn tính làm nên các cộng đoàn này luôn có điểm chung là cùng nhau ở với Chúa và được Chúa sai đi. Thế nên, người tông đồ nào được sai đi cũng luôn xuất thân từ một cộng đoàn và vì thế sẽ mang danh nghĩa nhân danh cộng đoàn.

I. SỐNG CẢM THỨC THUỘC VỀ

Thuộc về là cảm thức rất tự nhiên của mọi người, ai cũng có nhu cầu tương quan, mỗi người đều cảm thấy ít hay nhiều, chặt chẽ hay hờ hững, mình thuộc về một nơi, là một phần của gia đình, của giáo xứ, của đoàn thể.…Thiết nghĩ người tông đồ được sai đi trước hết cần ý thức sống tính thuộc về, để trung thành với Đấng sai mình và cộng đoàn mình xuất phát khi được sai đi.

1. Thuộc về Thiên Chúa

Bài giáo lý sơ cấp chúng ta học từ thuở nhỏ đã cho chúng ta một ý niệm căn bản rằng chính Thiên Chúa là nguồn cội của chúng ta. Do đó, từ sâu thẳm lòng ta vẫn có nỗi khắc khoải sống tính thuộc về Thiên Chúa, cho dù nhiều khi chúng ta để cho những cái khác phủ lấp đi phần nào lòng khao khát căn bản này. Thánh Augustinô nói: “Thiên Chúa đã dựng nên chúng con cho Thiên Chúa, và lòng chúng con không nghỉ yên cho đến khi được nghỉ yên trong Thiên Chúa”. Để sống tính triệt để sự thuộc về Thiên Chúa, người tu sĩ tự nguyện sống: hoàn toàn tận hiến cho Thiên Chúa, hoàn toàn thuộc về Chúa với một trái tim không chia sẻ. Họ được thánh hiến cho Thiên Chúa, hoàn toàn trao hiến mình cho Thiên Chúa bằng cách dâng lên Ngài một tình yêu trọn vẹn nhất[1].

2. Thuộc về Giáo Hội.

Qua bí tích rửa tội, chúng ta thuộc về Chúa, thuộc về Giáo Hội của Chúa. Hội dòng chúng ta được sinh ra và lớn lên trong Giáo Hội, từ Giáo Hội chúng ta mới có tên tuổi và được mọi người biết đến. Mối quan hệ sống động này với Giáo Hội được xây nền trên chính sự kết hiệp với Chúa Kitô. Đức Giáo Hoàng Phanxicô nói: “Căn tính Kitô hữu của chúng ta là thuộc về! Chúng ta là các Kitô hữu bởi vì chúng ta thuộc về Giáo Hội. Đó như là tên họ: nếu tên gọi là "tôi là Kitô hữu", thì tên họ là "tôi thuộc về Giáo Hội"[2].

3. Thuộc về cộng đoàn.

Người tu sĩ được Thánh hiến cho Thiên Chúa cụ thể ngang qua một Linh đạo và Đặc sủng của một cộng đoàn. Cũng qua việc hiến Thánh ấy, người tu sĩ chính thức trở nên thành viên của một cộng đoàn, có khả năng tiếp nối, duy trì truyền thống và mang lấy tất cả vận mạng của cộng đoàn đó. Thế nên, từ khi đã được thánh hiến, chúng ta làm gì, sống thế nào, không còn với tư cách cá nhân mình, nhưng trong tư cách là người của một cộng đoàn. Hiến luật dòng xác định: Đời sống cộng đoàn thuộc về bản chất của người nữ tu Mân Côi[3]. Từ cộng đoàn, chúng ta được sai đi thi hành sứ vụ của Dòng với tình hiệp thông, qua tất cả những công việc vẻ vang hay âm thầm, thành công hoặc thất bại, âu lo hay hy vọng, thuận lợi hay khó khăn…

II. ĐƯỢC SAI ĐI NHÂN DANH CỘNG ĐOÀN

Mỗi cộng đoàn trong Giáo hội được thành lập là vì và cho một sứ mạng. Giáo luật cũng xác minh điều này: “Các Kitô hữu được thánh hiến cho Thiên Chúa qua việc tuyên giữ các lời khuyên Phúc Âm sẽ tham dự vào sứ mạng cứu rỗi của Giáo Hội cách đặc biệt theo mục tiêu và tinh thần của tu hội”(207,2; 574,2). Thế nên, sứ mạng của người tông đồ luôn xuất phát từ một cộng đoàn, họ được sai đi nhân danh Chúa, ngang qua các đại diện của Chúa. Người tông đồ không làm việc gì nhân danh bản thân hay bất cứ ai, nhưng nhân danh cộng đoàn. Điều này thể hiện tính hiệp thông của từng người với cộng đoàn, cho dù người ấy làm việc ở đâu đó một mình hay với những người khác trong cộng đoàn, công việc của họ dù lớn hay nhỏ cũng là một phần của toàn thể sứ mạng cộng đoàn, và vẫn có ảnh hưởng tới cộng đoàn. Để làm rõ và nhấn mạnh đặc điểm này, nhiều nhà tu đức nhắc nhở chúng ta: làm tông đồ mà không được sai đi, thì người ấy đã lấy việc của Chúa để làm vinh danh bản thân mình, đó là làm việc của Chúa mà không làm theo ý Chúa. Đức cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận đã xác tín: Không vâng lời, dù có thực hiện những công trình vĩ đại cũng không đẹp lòng Chúa. Chúa chỉ quý lòng con, Chúa không cần công trình của con, Chúa tạo dựng cả vũ trụ không cần con[4]. Thánh Gioan Lasan cũng nhấn mạnh trong một bài giáo huấn của ngài dành cho các sư huynh trong dòng: nếu không có nhân đức vâng phục, thì mọi hành động dù thánh thiện đến đâu, cũng chỉ là thứ trang điểm cho lòng kiêu ngạo[5].

Tâm tình của người tông đồ là cảm thấy mình thuộc về cộng đoàn vì cộng đoàn cưu mang mình, nên việc của mình làm có liên quan đến cộng đoàn. Thuộc về cộng đoàn Dòng không chỉ trên danh sách, nhưng là thể hiện một đời sống tận tụy chung chia trách nhiệm sứ vụ, làm cho Đoàn sủng mỗi ngày được bén rễ sâu và lan rộng trong lòng Giáo hội.

1. Người nữ tu Mân Côi hiểu rõ căn tính cộng đoàn mình thuộc về.

Trước khi trở thành một nữ tu Mân Côi, các tập sinh được đào luyện để biết Chúa, biết Hội dòng và biết mình. Biết không chỉ bằng tri thức, nhưng còn phải thấm nhuần tinh thần của cộng đoàn mình sẽ thuộc về là : “Với tinh thần Đức Ái trọn hảo, chị em cùng Mẹ Maria, sống mầu nhiệm cứu độ và mang ơn cứu độ đến cho mọi người bằng việc rao giảng Tin mừng và giáo dục đức tin, đặc biệt cho người nghèo khổ, trong các lãnh vực: giáo dục, y tế, từ thiện, xã hội và mục vụ tông đồ” (x. HL 2.3 và 4.2). Nếu không hiểu được căn tính này, có thể chúng ta sẽ rơi vào trạng thái nhiệt tình quá với các nhu cầu bao la của thế giới và quên đi nét riêng biệt trong Đoàn sủng của Dòng. Trong Tông huấn Vita Consecrata, Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã căn dặn: “Trong mỗi tu hội, cần phải trung thành với Đoàn sủng sáng lập và với gia sản thiêng liêng được gầy dựng lên tiếp sau. Việc trung thành với linh ứng của Đấng sáng lập, giúp tìm lại và sống nhiệt thành những yếu tố cốt yếu của đời thánh hiến” (VC 36). Ở số tiếp theo, Ngài viết: “Càng trân trọng luật dòng, những người tận hiến càng có những tiêu chuẩn chắc chắn để tìm ra những phương thức thích đáng để làm chứng, đáp ứng những đòi hỏi của thời đại mà không xa rời linh ứng nguyên thủy”. (VC 37)

2. Cung cách của người nữ tu Mân Côi được sai đi.

Mỗi địa chỉ chúng ta được “sai” tới là dấu chỉ sự có mặt của Hội dòng. Vì thế, chúng ta cần ý thức mình đang “thuộc về” cộng đoàn mang tên Con Đức Mẹ Mân Côi . Cảm thức thuộc về dẫn đưa chúng ta xích lại gần nhau. Nơi đây, chúng ta xây dựng tình hiệp thông huynh đệ như là dấu chỉ của nước Thiên Chúa. Tông huấn Vita Consecrata xác định: “Sự hiệp thông huynh đệ không chỉ là một phương tiện giúp thi hành một sứ mạng nào đó, mà còn là nơi Thiên Chúa ngự, nơi mà người ta có thể kinh nghiệm được sự hiện diện bí nhiệm của Chúa phục sinh (x. Mt 18, 20)” (VC 42).

Chúng ta cùng nhắc lại một số điểm trong lời “Kinh sai đi” mà chị em chúng ta đã cùng nhau đọc cách long trọng trong giờ Chầu Thánh Thể của ngày nhận “Bài sai”.

... Chúng con xin đoan nguyện:

± Sẽ cùng với chị em dấn thân xây dựng một cộng đoàn yêu thương và hiệp nhất, biết luôn chia sẻ và cộng tác chân tình với nhau trong những trách nhiệm chung.

± Biết đón nhận và trung thành với những bổn phận được ủy thác với tinh thần siêu nhiên và thánh thiện.

± Biết sống từ bỏ, quên mình và hy sinh trong khi thi hành sứ vụ. Nhiệt thành giúp đỡ tha nhân, tìm lợi ích cho người khác hơn là cho chính mình.

…. Xin cho mọi cố gắng và mọi công việc chúng con làm, chỉ nhằm làm vinh danh Chúa, hiển danh Mẹ Maria và vì các linh hồn, theo sứ mạng của Hội Dòng chúng con.

Tất cả những điều trên sẽ chỉ diễn ra nơi một tâm hồn có đời sống thân tình với Chúa, như lời mời gọi trong Sắc lệnh Perfectae Caritatis: “Hoạt động tông đồ của các tu sĩ phải được phát sinh từ cuộc sống kết hiệp mật thiết với chính Chúa Kitô, nhờ đó, chính đức mến Chúa yêu người được triển nở” (PC 7).

III. GỢI Ý SUY TƯ VÀ THỰC HÀNH

Với tôi, sống “cảm thức thuộc về” có mang lại cho tôi sự bình an, hạnh phúc, sức mạnh và sự phong phú không?

Tôi, cộng đoàn của tôi hiện diện nơi đây để thi hành sứ mạng gì? Tôi đã và đang mang tâm trạng nào khi thi hành sứ vụ Chúa trao qua Bề trên, qua chị Phụ trách?

Với những đoan nguyện trong “Kinh sai đi”, tôi cần cố gắng thêm điều gì trong môi trường Chúa đang muốn tôi hiện diện?

Ghi nhớ:

± Giáo huấn của Đức Cha Tổ Phụ: “Làm việc phải đằm thắm, phải nhịn nhục. Phải tập tính sửa nết sao cho an vui hòa nhã luôn, làm việc với ai thì ai nấy cũng thích tính mình, làm việc với ai cũng không gì ái ngại” ( GS I, 539)

± “Trong các hoạt động tông đồ, qua nếp sống và cách cư xử, chị em phải biểu lộ cho mọi người thấy tinh thần bác ái là tinh thần riêng của Dòng” (HL 41.5)

M. Têrêsa Đinh Thị Nụ, Fmsr

[1] x. LG 44
[2] Bài giáo lý về Giáo Hội, của ĐGH Phanxicô, Hoàng Quốc Việt chuyển ngữ.
[3] x. HL 1.1
[4] Đường hy vọng 400, ĐHY Nguyễn Văn Thuận.
[5] Bài suy niệm 11. 1 của Thánh Gioan Lasan, trích trong Lasan.net

SrKhuyenĐƯỢC SAI ĐI VỚI NHIỆT THÀNH TÔNG ĐỒ

vector6

Nhiệt thành là một trong những yếu tố căn bản cần thiết để đưa một người đến thành công. Nhờ đó, người ta có thể chu toàn trách nhiệm được giao cách vui tươi và sáng tạo. Những khó khăn, trở ngại được vượt qua một cách dễ dàng. Người nhiệt tâm không sợ hy sinh, sẵn sàng đương đầu với mọi thử thách để đi đến mục tiêu đời mình. Nếu thiếu lòng nhiệt thành người ta dễ rơi vào tình trạng thụ động, lơ là chểnh mảng, thích tìm an nhàn hưởng thụ. Mục tiêu và lý tưởng ban đầu dễ dàng bị coi thường và đánh mất.

Người tông đồ khi được Chúa sai đi chắc chắn mang trong mình nhiệt huyết thiêng liêng. Bầu nhiệt huyết này được trao tặng như món quà nhưng không, gói trọn trong ơn gọi Thánh Hiến của mình. Thế nhưng, cũng như ơn gọi Thánh Hiến, lòng nhiệt thành tông đồ không phải là một báu vật hay kho tàng. Người ta không thể thủ đắc nó trong chốc lát hay trong một khoảnh khắc thời gian. Nhưng nó là một tiến trình lắng nghe và đáp trả mỗi ngày. Người tông đồ đích thực luôn cẩn thận dưỡng nuôi và tập luyện liên lỉ từng phút giây để lớn lên, trưởng thành hơn trong sự say mê lý tưởng của mình. Nhờ thế, họ luôn biết sống và làm việc theo tinh thần của Chúa Giêsu. “Khi có lửa nhiệt tình rực cháy trong lòng, họ sẽ tìm ra được những phương cách truyền giáo hữu hiệu, sẽ dám dấn bước tới các địa chỉ mới lạ, dám chèo ra chỗ nước sâu (x. Lc 5:6). Để làm được điều đó, họ phải nuôi dưỡng ‘lửa’ trong lòng. Đó là lửa yêu mến Chúa hết lòng và khao khát cho phần rỗi các linh hồn.”

Đây không phải là chuyện đơn giản đối với xã hội ngày nay vì như Đức Thánh Cha Phaolô VI nói rằng: “Việc loan báo Tin Mừng trong thời đại chúng ta gặp nhiều trở ngại, một trong những trở ngại lớn là sự thiếu nhiệt tình. Nó càng trầm trọng bởi lẽ nó phát xuất từ bên trong, nó biểu lộ sự mệt mỏi và chán nản, sự làm lấy lệ và hờ hững, và nhất là sự thiếu niềm vui và hy vọng. Vì vậy chúng tôi khuyên những ai có nhiệm vụ loan báo Tin Mừng ở bất cứ cấp bậc nào, hãy nuôi dưỡng nhiệt tình cho tâm hồn mình.” Là những nữ tu của Chúa, chúng ta được Chúa mời gọi, tuyển chọn để ở với Người và được Người sai đi. Vậy chúng ta phải làm gì để nuôi dưỡng lòng nhiệt tình tông đồ. Khi được sai đi, chúng ta phải làm sao để không rơi vào tình trạng mệt mỏi chán nản, làm lấy lệ hờ hững… nhưng luôn hăng say rao giảng trong niềm vui và hy vọng. Trong giới hạn cho phép, chúng ta cùng nhau nhìn lại cách thức nuôi dưỡng lòng nhiệt thành qua các mối tương quan đối với Thiên Chúa, tha nhân và chính bản thân mình.

I. NHIỆT THÀNH VỚI THIÊN CHÚA

Người nhiệt thành là người luôn có lửa yêu mến Chúa hết lòng. Để có được ngọn lửa đó chúng ta cần xác tín rõ ơn gọi của mình, sự hiện diện của Chúa Kitô phục sinh và xác tín vào tình yêu nhưng không của Chúa dành cho mình.

1. Xác tín vào ơn gọi đời sống Thánh Hiến:
Theo tông huấn Vita Consecrata thì chính Chúa Cha đã kêu gọi chúng ta. Ngài không ngừng ban Thánh Thần nhào nặn trong tâm hồn chúng ta tâm tình của Chúa Giêsu, Người Con Duy Nhất của Ngài, Đấng đã dùng cả cuộc đời để thực hiện thánh ý Chúa Cha. Xác tín rõ công việc tông đồ của mình là tiếp nối từ nguồn mạch Giêsu, Đấng đã không ngại phải thiệt thân vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa. Công việc chúng ta dù là lớn lao hay tầm thường nhỏ bé vẫn mang một giá trị cứu độ vì chúng ta đã được sai đi chứ không phải tự ý mình đi. Khi thực sự sống niềm xác tín này, chúng ta sẽ kiên trì trong vui tươi, khôn ngoan và can đảm bất chấp những khó khăn trước mắt; luôn hết tình gắn kết với Đấng đã đem lửa đến trần gian và cùng Ngài làm cho ngọn lửa tình yêu bừng cháy mãi trong mọi tâm hồn.

2. Xác tín về sự hiện diện của Chúa Kitô phục sinh:
Cuộc sống quá nhiều khó khăn phức tạp, che dấu đi sự hiện diện sống động của Thiên Chúa. Nếu không có một đức tin vững chắc và nền linh đạo thâm sâu, chúng ta dễ rơi vào thái độ bi quan, tất định và hoài nghi. Khi chúng ta đã cố gắng mà không thấy có gì thay đổi, thì cám dỗ bỏ cuộc dễ nẩy sinh. Những lý do trước mắt có thể kéo ghì chúng ta ở lại tiện nghi, an nhàn, lười biếng… Đây là thái độ tiêu cực, tự hủy diệt, vì không ai có thể sống mà không có hy vọng: Cuộc đời sẽ trở nên vô nghĩa và không thể chịu đựng nổi, nếu chúng ta nghĩ rằng không cái gì thay đổi được. Sự xác tín rằng Đức Giêsu Kitô đã chiến thắng tội lỗi, sự chết sẽ giúp đẩy lùi sự bất mãn một cách vu vơ và ích kỷ trống rỗng. Niềm vui và hy vọng tràn đầy vào Đấng Toàn Năng giúp vượt qua những giờ phút cô đơn, buồn chán, thất vọng. Bởi xưa kia, Ngài đã từng sống, từng vất vả, từng phải đối diện với sự dữ, từng mang thân phận hẩm hiu như chúng ta. Nhưng Ngài đã chiến thắng vinh quang và là nguồn suối hy vọng của mọi người. Tin Mừng kể lại rằng khi các tông đồ bắt đầu đi rao giảng, “Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng” (Mc 16:20). Đó cũng là điều xảy ra hôm nay. Ngài sẽ không từ chối giúp đỡ chúng ta trong việc thực thi sứ mạng Ngài đã ủy thác cho chúng ta.

3. Xác tín vào tình yêu nhưng không của Thiên Chúa:
Một người hạnh phúc thật sự khi cảm thấy mình được yêu thương, trân trọng và đáng quí. Chúa Giêsu đã từng nói với chúng ta về tình yêu khắng khít đậm đà Ngài dành cho những ai bước theo Ngài: “Như Cha đã yêu thày thế nào thì thày cũng yêu con như vậy”. Tình yêu đó nâng chúng ta từ thân phận khốn cùng lên hàng bạn hữu: “Thày không gọi các con là tôi tớ nữa nhưng là bạn hữu”. Từ đó, cho phép chúng ta được gọi Thiên Chúa là Cha và sống tình con thảo với Ngài. Có gì an bình hạnh phúc hơn khi được trở về với vòng tay Cha sau những tháng ngày vật lộn, bôn ba với cuộc sống. Cha Henri Nouwen viết lại kinh nghiệm trở về , khi nhìn bức tranh người con hoang đàng của Rembrandt. Ngài thấy mình cần vòng tay yêu thương của Cha, cần sự tha thứ, cảm thông… Ước gì những nữ tu của Chúa cũng biết trở về với Thiên Chúa là Cha sau những mệt mỏi rã rời. Tìm về để ngụp lặn trong bàn tay yêu thương, để lấy lại sức mạnh và tiếp tục vui bước trong hành trình dâng hiến. Đó chính là nguồn trợ lực không bao giờ cạn, giúp chúng ta sống an vui và hạnh phúc giữa những vất vả thường ngày. Bất chấp dòng đời có đổi thay hay lòng người có thay đổi thì chính Chúa vẫn là tất cả của chúng ta.
1. Để có được sự xác tín vào ơn gọi của mình, chúng ta nên tận dụng những giờ phút ngắn ngủi trong ngày để nhớ lại hồng ân ơn gọi Chúa đã dành cho mình.
2. Để xác tín vào sự hiện diện của Chúa Kitô Phục Sinh, chúng ta hãy cho Ngài cùng hiện diện, hoạt động với chúng ta bằng những tác động yêu mến (nguyện tắt).
3. Năng nghĩ về tình yêu của Chúa qua những người thân yêu, những chị em bên cạnh dành cho mình hơn là những thứ khác.

II. NHIỆT THÀNH VỚI THA NHÂN

Sống trong mối tương quan gần gũi, sống động với Chúa Kitô phục sinh, chúng ta được thúc đẩy đến với tha nhân bằng một tình yêu vô vị lợi, luôn tôn trọng sự khác biệt để tạo nên sự phong phú và nỗ lực đưa tha nhân đến với nguồn mạch sự sống là chính Chúa.

1. Một tình yêu vô vị lợi: Người nữ tu nhiệt thành đến với tha nhân bằng một tình thương mến phát xuất từ nguồn mạch là Thiên Chúa. Chính suối nguồn đức ái này giúp chúng ta yêu thương và phục vụ tha nhân bằng một tình yêu vô vị lợi; chấp nhận hy sinh để đem lại hạnh phúc cho người khác. Trong khi thế gian tìm cách lợi dụng người yếu thế để bóc lột, thu lợi nhuận cho riêng mình, thì dưới mắt người nữ tu của Chúa, ai cũng là anh chị đáng được tôn trọng và yêu thương. Nỗ lực cố gắng làm điều tốt lành cho tha nhân, nhất là những người thấp bé, là điều luôn được chúng ta nhắm tới. Bởi những ai thuộc về Chúa thì luôn thâm tín rằng Thiên Chúa muốn cho mọi người con của Ngài được hạnh phúc ngay trong đời sống thực tại hàng ngày, mặc dù họ được kêu gọi để hưởng sự viên mãn trong cõi vĩnh hằng.

2. Tôn trọng người khác: Trân trọng sự khác biệt là một trong những nét tế nhị và độc đáo của đức ái Chúa Kitô. Được thúc đẩy mạnh mẽ bởi nguồn mạch đức ái, người nữ tu có nhiệt huyết tông đồ không thể nào yên tâm khi thấy anh em mình đau khổ. Họ luôn cố gắng trau dồi và học hỏi để mở rộng khả năng yêu thương và phục vụ tha nhân cách hữu hiệu. Một tình thương không áp đặt, đè nén, nhưng biết trân trọng thói quen truyền thống, cách hành xử của một con người (có truyền thống văn hóa, gia đình, ngôn ngữ, bản sắc dân tộc riêng). Nhờ kinh nghiệm về Tình yêu vô vị lợi của Thiên Chúa, người tông đồ biết từ bỏ mình để người khác được lớn lên trong ân sủng và tình yêu. Đây cũng là cơ hội để người nữ tu khám phá và chiêm ngắm sự phong phú của công trình Thiên Chúa tạo dựng nơi anh chị em đồng loại. Nó thúc đẩy chúng ta bỏ đi khuynh hướng lấy mình làm trung tâm hay áp đặt người khác.

3. Hướng đến nguồn tình yêu đích thực: Chăm chút cho đời sống thường ngày, người nữ tu nhiệt huyết luôn thao thức dẫn tha nhân đến nguồn mạch chân lý là chính Thiên Chúa. Mặc dù không thiếu những khó khăn, những cản trở bên ngoài cũng như trong chính nội tâm, người tông đồ đầy nhiệt huyết xác định rõ sứ mệnh đem tình yêu Thiên Chúa đến và giúp tha nhân cảm nghiệm hạnh phúc được làm con Chúa trong gia đình Giáo Hội. Họ không bao giờ bỏ qua cơ hội mà không làm điều gì để hé mở dung nhan Thiên Chúa cho người khác. Những cách thức hành động đôi khi rất đơn giản, tự nhiên nhưng phát sinh một năng lực truyền giáo rất mạnh mẽ. Nó như những hạt giống âm thầm được gieo vào lòng đất, không ồn ào, náo động, hay khua chiêng đánh trống. Thao thức sống tốt để thông truyền kinh nghiệm cho người khác như Cha Joseph Gross đã nói khi giảng tĩnh tâm cho các nữ tu: “Chị em hãy sống chân lý và dạy cho người khác sống như vậy. Có trăm ngàn linh hồn thèm khát được sống như thế. Chị em hãy tỏ lòng biết ơn Chúa bằng cách giúp người khác hưởng nhờ bí quyết mà Chúa mặc khải cho chị em, đồng thời dạy các trẻ em cũng biết điều này. Đem một linh hồn về với Chúa là việc cao cả. Liệu chừng chị em có thể dửng dưng đứng nhìn xem bao người, bao giáo dân có thiện chí lăn lộn dưới đất hay chị em muốn nhìn thấy họ vui vẻ đứng lên để phục vụ Chúa Kitô? Chỉ cần một bước nhỏ dẫn đưa họ đến với Chúa, chị em sẽ được thưởng một bậc cao hơn trong vinh quang đời đời.”

THỰC HÀNH CỤ THỂ

1. Tập quan sát thái độ của ta đối với người khác để điều chỉnh. Chẳng hạn đối tượng nào hay làm cho ta khó chịu, gắt gỏng…Có phải là những người ta không thích, những người yếu thế hơn, kém thông minh…. Chúa nói nếu ta chỉ yêu thương những kẻ yêu thương mình thì nào được ích gì?
2. Tập tôn trọng những người bên cạnh mình, khiêm tốn để thấy nét đẹp, sự phong phú nơi người khác.
3. Luôn ý thức bổn phận đem người khác đến với Chúa Giêsu, bằng sự khôn ngoan tận dụng mọi giây phút làm cho họ biết Chúa.

III. NHIỆT THÀNH VỚI CHÍNH MÌNH:

Biết rõ giá trị cao quí của sứ mạng được trao, đồng thời ý thức giới hạn trong bản tính nhân loại của mình, người nữ tu nhiệt thành không ngừng tu luyện, trao dồi những đức tính căn bản cần thiết nhất cho việc rao giảng Tin Mừng như: khiêm tốn, hiền lành, nhịn nhục, hy sinh…

Sự khiêm tốn: Đức Cha Tổ Phụ đã dạy: “Đức khiêm nhường là nền mọi nhân đức, xưa nay ai cũng từng nghe. Vậy hãy ân cần tập đức ấy. Dẫu mình tài năng trí tuệ, cũng đừng nghĩ mình hơn ai, đừng mong cho được nên vị này, vị nọ. Dù mình được làm vai gì, cũng phải nghĩ mình là tôi tớ chị em… Phải nhớ câu: Chúa hằng chống cự kẻ kiêu căng, mà ban ơn cho người khiêm nhường . Sự khiêm tốn giúp hăng say và trung thành trong công việc. Người khiêm nhường biết rõ khả năng cũng như thân phận con người giới hạn mỏng manh của mình, nên dễ mở rộng tâm hồn cho Chúa Thánh Thần hoạt động. Họ chấp nhận hy sinh vì sứ mạng, không lo âu thất bại cũng như nóng giận trước những điều trái ý, đón nhận mọi thành quả trong niềm tin tưởng phó thác. Là người biết dấn thân không mệt mỏi, xóa mình vì tha nhân và sẵn sàng rút lui khi cần, “Ngài phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi”.

Đức nhịn nhục: Bổn phận của chúng ta là phải trình bày niềm vui và hy vọng cho thế giới, nhưng không phải theo cách thế của kẻ kiêu căng ngạo mạn, thích chống đối, chỉ trích, tiêu cực… trong thư thứ 2 của thánh Phaolô tông đồ gởi cho Timôthê: “Người tông đồ thì không được cãi cọ, nhưng phải dịu dàng với mọi người… biết chịu đựng gian khổ. Người ấy phải lấy lòng hiền hòa mà giáo dục những kẻ chống đối… Hãy rao giảng lời Chúa, hãy lên tiếng lúc thuận lợi cũng như lúc không thuận lợi; hãy biện bác, ngăm đe, khuyên nhủ với tất cả lòng nhẫn nại và chủ tâm dạy dỗ.” (2:24, 4:2) ĐCTP: “Hàng ngày chị em phải tập đức chịu khó, trí khôn phải chịu khó, thân xác phải chịu khó, cái gì cũng phải rán sức, làm cho hết tài lực Chúa ban, đừng làm qua loa cho hết thời buổi… Phải bỏ tính hay chấp nhất, lấy ý mình làm hơn, lấy điều mình muốn làm phải, mà không muốn nhường ý ai, dù ý bề trên cũng chẳng nể. Như thế thiếu cả đức hãm mình, cả đức khiêm nhường… vậy kẻ biết hãm mình dẹp xác… thì vui lòng chịu vì Chúa… lập được nhiều công đức là thể nào!”

Hy Sinh Khổ Chế: Người nữ tu của Chúa phải là người rất thuần thục trong việc góp nhặt những hy sinh trong bổn phận hằng ngày. Nhờ học hỏi và tập luyện, họ hiểu rõ giá trị công việc mình làm. Những vất vả, cực nhọc không gây nản chí sờn lòng, nhưng là cơ hội giúp chúng ta thêm kiên tâm bền chí. Người nhiệt thành không bao giờ kêu la, phản kháng hay càm ràm kêu trách nhưng biết nội tâm hóa để mọi sự sinh hoa kết trái là lợi ích cho các linh hồn được trao phó cho mình.

Trong hành trình thực thi sứ mạng không thiếu những gian nan vất vả, nhưng cái khó nhất vẫn là cuộc chiến với chính mình, chiến đấu để sống công bằng, bác ái và yêu thương, chiến đấu để không thiên vị người này hơn người kia kém, chiến đấu để chống lại những bất hòa chia rẽ… Nhưng cuối cùng vẫn là cảm nghiệm thật sâu nỗi khốn cùng của thân phận con người để biết hạ mình đúng mức , tạo điều kiện thuận lợi cho quyền năng và ân sủng của Thiên Chúa hoạt động.

THỰC HÀNH CỤ THỂ

1. Khiêm nhường là người có khả năng nhìn sự thật về mình, sống thật, không đeo mặt nạ. Hãy học cùng ta vì ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng.
2. Để biết nhịn nhục, chúng ta tập sẵn sàng đón nhận những trái ý nho nhỏ hằng ngày với ý hướng tập luyện.
3. Tập khổ chế bằng cách ý thức thu góp những hy sinh bé nhỏ để cầu nguyện cho các linh hồn đặc biệt những người trong bổn phận của chúng ta.

KẾT LUẬN:
Hơn ai hết, chúng ta có một mẫu gương của lòng nhiệt thành tông đồ là Đức Trinh nữ Maria. Nơi Mẹ, luôn rực cháy một ngọn lửa mến yêu Thiên Chúa, hết lòng phục vụ tha nhân. Mẹ luôn “suy nghĩ” trong lòng để điều chỉnh con người mình theo ý Thiên Chúa. Xin Mẹ Mân Côi cầu thay nguyện giúp để chúng ta luôn trở thành người môn đệ đầy nhiệt huyết, dấn thân không ngừng vì Nước Trời.

M. Clara Nguyễn Thị Thảo


[1] Thư Định Hướng Đầu Niên Học 2016-2017, Để Người Sai Đi 

[1]  Phaolô VITông Huấn Loan Báo Tin Mừng, 80

[1]  “Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, ta đã biết ngươi, trước khi ngươi lọt lòng Mẹ ta đã thánh hóa ngươi. Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân.” (Gr 1:4)

[1]  Đức Thánh Cha Phanxicô, Niềm Vui Tin Mừng (NVTM), 275

[1]  “Chúng ta có một kho tàng sự sống và tình yêu không thể lừa dối, và một sứ điệp không thể làm chúng ta lạc đường hay thất vọng. Nó thấm nhập tận thâm cung lòng chúng ta, nâng đỡ và làm chúng ta thêm cao quí. Nó là một chân lý không bao giờ lỗi thời vì nó chạm đến phần trong con người chúng ta mà không gì khác chạm đến được. Cảm giác buồn sầu vô hạn của chúng ta chỉ có thể được chữa lành bởi một tình yêu vô biên”. Đức Thánh Cha Phanxicô, NVTM, 265b

[1]  “Nếu Ðức Kitô đã không chỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng.” (1Cr 15:14)

[1]  Đức Thánh Cha Phanxicô, NVTM, 263

[1]  Nouwen là tác giả thiêng liêng được ưa chuộng nhất của cuối thế kỷ 20 và sách của cha vẫn được chuộng cho đến ngày hôm nay. Tác phẩm nổi tiếng The Return of the Prodigal Son: A Story of Homecoming kể lại kinh nghiệm thiêng liêng của cha khi ngắm nhìn bức tranh của Rembrandt.

[1]  “Truyền giáo là một niềm say mê Đức Giêsu, vừa đồng thời say mê dân Ngài. Đứng trước Đức Giêsu chịu đóng đinh, chúng ta thấy được chiều sâu tình yêu của Ngài, tình yêu nâng chúng ta lên và kiện cường chúng ta, nhưng đồng thời, chúng ta cũng bắt đầu nhận ra rằng cái nhìn cháy bỏng yêu thương của Đức Giêsu mở ra ôm ấp toàn thể dân của Ngài. Chúng ta một lần nữa nhận ra rằng Ngài muốn chúng ta đến gần với dân yêu dấu của Ngài hơn. Ngài chọn chúng ta từ giữa dân của Ngài và sai chúng ta đến với dân của Ngài.” Đức Thánh Cha Phanxicô, NVTM, 268

[1]  “Vì không luôn luôn nhìn thấy các hạt giống này lớn lên, chúng ta cần có một sự chắc chắn nội tâm, một niềm xác tín rằng Thiên Chúa có khả năng hành động trong mọi tình huống, ngay cả giữa những cái bề ngoài có vẻ là thất bại: “Chúng tôi chứa đựng kho tàng này trong những bình sành” (2Cr 4:7). Niềm tin chắc này thường được gọi là “một cảm thức về mầu nhiệm”. Đó là biết một cách chắc chắn rằng tất cả những ai tin tưởng phó thác vào Thiên Chúa trong tình yêu sẽ sinh nhiều hoa trái (xem Ga 15:5).” Đức Thánh Cha Phanxicô, NVTM, 279

[1]  GSD I, tr. 98

[1] GSD I, tr. 101-102

[1] Gc 4:10

SrTuyetMaiĐƯỢC SAI ĐI VỚI HÀNH TRANG MANG THEO

vector6

Trong bất cứ cuộc hành trình nào, người ta cũng cần đến một số hành trang. Dù hành trình xa hay gần, người ta cũng phải chuẩn bị cho mình có những hành trang tương xứng. Hành trình càng quan trọng, hành trang càng phải chọn lựa và tính toán sao cho phù hợp, vì trên đường đi, gói hành trang càng nhẹ nhàng, người ta càng bước nhanh.

Tin Mừng Thánh Marcô 6, 7-13 thuật lại việc các môn đệ lên đường truyền giáo theo lệnh Chúa Giêsu với một hành trang rất đơn giản: không tiền bạc, không lương thực, không mang hai áo, không bao bị, ngoại trừ hai vật dụng cần thiết cho người đi đường là cây gậy và đôi dép. Chính Chúa Giêsu đã đề nghị các môn đệ mang theo những hành trang này và loại bớt những hành trang không cần thiết cho sứ vụ, vì Chúa muốn cho các ông trở nên những con người thanh thoát, không vướng bận vào của cải vật chất để có thể sẵn sàng cho sứ vụ được trao. Với hành trang đơn giản như thế, người được sai sẽ tập trung vào việc rao giảng Tin Mừng và phó thác mọi sự vào quyền năng của Thiên Chúa thay vì phải để tâm đến những điều phụ thuộc bên ngoài.

Ngày nay, tất cả những gì chúng ta thấy: tiền của, tiện nghi vật chất… dễ là chỗ cho chúng ta cậy dựa, vì chúng thường làm chúng ta yên tâm coi đó như những phương tiện giúp thành công trong việc tông đồ. Thật ra đây chỉ là một thứ yên tâm giả tạo khiến chúng ta dựa vào sức người để thực hiện chương trình của mình hơn là dựa vào quyền năng của Thiên Chúa để thực hiện chương trình của Chúa. Là những nữ tu tông đồ, chúng ta có cảm nhận được điều đó không? Trong khi thi hành sứ vụ, chúng ta thường chuẩn bị cho mình những loại hành trang nào?

1. Hành trang là một tâm hồn nhẹ nhàng thanh thoát

Hình ảnh các môn đệ ra đi vào các làng mạc rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa mà không mảy may dính bén đến của cải vật chất cho ta thấy sự thanh thoát của tâm hồn là điều kiện để thiết lập những mối liên hệ cần có giữa Thiên Chúa và giữa con người với nhau. Khi không có gì bên ngoài để cậy dựa, chúng ta sẽ sống phó thác và tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa như một bảo đảm chắc chắn nhất cho việc tông đồ. Khi giảm thiểu những sở hữu vật chất, chúng ta sẽ dễ dàng gắn bó và lệ thuộc vào Thiên Chúa. Với khăn gói nhẹ nhàng, với lòng mến và sự nhiệt tâm, chúng ta sẽ loan báo Tin Mừng cách hiệu quả hơn.

Chúng ta vẫn biết rằng tiền bạc thật cần thiết cho cuộc sống và giúp ích cho mọi công việc của chúng ta, nhưng nó không phải là cứu cánh cho cuộc đời. Tiền bạc có thể cho chúng ta những phương tiện cần thiết trong khi thi hành sứ vụ, nhưng nếu chúng ta bị lệ thuộc vào chúng, chúng có thể làm chúng ta mất sáng suốt để nhận ra đúng giá trị của nó. Trong thực tế, có những người bị cuốn theo tiền bạc và tiện nghi vật chất mà có thể làm hỏng lý tưởng phục vụ. Đó là nguy cơ mà bất cứ ai cũng có thể rơi vào. Người tông đồ đích thực không chọn tiền bạc, cũng không chọn phải được phục vụ ở chỗ này, ở lãnh vực kia, nhưng dù làm việc gì, họ cũng chỉ mong diễn tả được tình yêu của Thiên Chúa qua cách sống thanh thoát và qua lối sống phục vụ của mình.

Sự thanh thoát mà chúng ta cần có không phải là sự bần cùng thiếu thốn mà chỉ có nghĩa là không được ham mê của cải vật chất, tiện nghi sang trọng, danh vọng trần thế đến độ làm nô lệ cho chúng mà coi nhẹ việc loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Chỉ có tấm lòng thanh thoát, chúng ta mới có thể dứt ra khỏi sức hút của đồng tiền và những lôi cuốn của trần gian, để chú tâm vào việc thi hành sứ mệnh của mình. Chỉ khi nào chúng ta say mến Chúa và yêu các linh hồn hơn mọi thứ của cải trần gian, chúng ta mới có thể làm chứng cho Chúa cách hữu hiệu được. Công việc của người tông đồ không bao giờ nhắm đến của cải vật chất, nhưng là giúp cho mọi người tìm kiếm hạnh phúc thiên đàng. Chính vì thế mà Chúa Giêsu đã nói với anh thanh niên giầu có:“hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời, rồi hãy đến mà theo tôi” (Mc 10, 21).

2. Hành trang là sự gắn bó mật thiết với Chúa Giêsu

Các môn đệ được sai đi sau khi đã ở với Chúa Giêsu và đã có một đời sống gắn bó mật thiết với Người. Đây chính là hành trang quan trọng nhất của người tông đồ.

Nhìn vào gương Chúa Giêsu, chúng ta thấy Chúa đã nêu gương về điểm này khi Người luôn gắn bó mật thiết với Chúa Cha, Đấng đã sai Người. Sự gắn bó ấy giúp Người hoàn toàn kết hiệp với Chúa Cha và trở nên một lòng một ý với Cha. Khi đi rao giảng, Người không chỉ nghĩ đến dân chúng và các tông đồ, nhưng Người còn gắn bó với Cha và ý thức mình là Người Con được Cha sai đến trong trần gian: “Như Cha đã sai Con đến thế gian...” (Ga 17, 18). Vì thế, Người luôn nhất trí với Cha: Người chỉ nói những gì đã nghe nơi Cha: “Tôi nói lại cho thế gian điều tôi đã nghe Cha nói” (Ga 8, 26), và làm những gì Cha đã làm: “Tôi không tìm cách làm theo ý riêng tôi, nhưng theo ý Đấng đã sai tôi” (Ga 5,30). Như vậy, suốt cuộc sống trần gian, Chúa Giêsu luôn gắn bó với Cha và tìm cách làm đẹp lòng Cha: “Đấng sai tôi vẫn ở với tôi, Người không để tôi cô độc vì tôi hằng làm những điều đẹp ý Người” (Ga 8, 29). “Gắn bó với Chúa” là tương giao nền tảng làm mẫu mực cho người tông đồ. Để công việc được hoàn thành tốt đẹp thì người sai và kẻ được sai phải rất ăn ý với nhau. Cũng như Chúa Giêsu cần đến Chúa Cha, chúng ta cũng phải sống gắn bó và nên một với Chúa Giêsu trong ý nghĩ, lời nói và hành động trong khi thi hành sứ vụ của mình.

Trong thực tế, giữa một bối cảnh xã hội mà trong đó hình như con người đang mất dần cảm thức về Thiên Chúa, họ thích sống hưởng thụ, vui vẻ với những tiện nghi vật chất, thì việc sống gắn bó và nên một với Chúa Giêsu quả không đơn giản chút nào. Nhưng một khi mang trong mình khát vọng muốn đem Chúa đến cho người khác, muốn chia sẻ niềm vui, hạnh phúc và sự bình an cho tha nhân thì chúng ta sẽ không để mình bị cuốn vào những đòi hỏi thỏa mãn nhất thời nhưng luôn biết dựa vào ơn Chúa, biết tỉnh thức cầu nguyện và để Chúa làm chủ mọi tư tưởng, lời nói việc làm của mình. Nhờ đó chúng ta sẽ dễ dàng vượt qua những khó khăn trắc trở trong nhiệm vụ, luôn biết đặt ý Chúa trên tất cả mọi sự, biết đối chiếu cái “ý tôi” với “ Ý Chúa” và sẵn sàng để những gì là “của riêng tôi” được tan biến trong những gì là “của Chúa” như lời Thánh Phaolo đã nói: “Tôi sống nhưng không phải tôi sống mà là chính Đức Kitô sống trong tôi.”(Gl 2, 20).

3. Hành trang là một trái tim đong đầy yêu thương

Chúa Giêsu đã đến trần gian sống với con người và rất mực yêu thương con người. Khi gặp gỡ bất cứ ai, Người luôn yêu thương và tôn trọng họ. Người ý lắng nghe tâm tư của họ. Người hiểu những nỗi lòng thầm kín của họ và đáp ứng kịp thời những khát vọng của họ. Từ chính hoàn cảnh của họ, Người khuyến khích họ can đảm hành động theo chân lý và luôn yêu thương sửa lỗi để họ hoàn thiện bản thân. Nơi Người luôn sáng ngời một trái tim mục tử đầy yêu thương, tận tâm và trung tín với những người được Cha trao phó.
Theo gương Chúa Giêsu, chúng ta đến với mọi người bằng trái tim yêu thương. Sứ mạng của chúng ta là sống và làm chứng cho một Thiên Chúa đầy tình yêu thương. Tình yêu thương này phát xuất từ Thiên Chúa và không bị lệ thuộc vào hoàn cảnh hay những điều kiện bên ngoài. Là một nữ tu Mân Côi, chúng ta nỗ lực làm cho cuộc sống chúng ta giống hình ảnh của một Vị Thiên Chúa đầy tình yêu thương trong khi chúng ta phục vụ. Chúng ta hãy làm cho đời sống dâng hiến của chúng ta tuyệt đẹp ở chỗ biết mở rộng trái tim đón nhận tình yêu của Thiên Chúa để rồi đến lượt mình, chúng phản chiếu được tình yêu ấy đối với mọi người chúng ta gặp gỡ. Khi có trái tim yêu thương, chúng ta sẽ có nhiều sáng kiến và đầy nhiệt tâm trong khi phục vụ.
Tinh thần Dòng của chúng ta là tinh thần Đức Ái. Tinh thần này làm cho chúng ta yêu thương hết mọi người, không phân biệt họ là ai, không đòi họ phải có điều kiện nào. Bao lâu mà tình yêu và những điều thiện hảo bao trùm mọi hoạt động của chúng ta, lúc bấy giờ chúng ta mới thực sự sống được tinh thần Đức Ái của Dòng. “Đối với chị em Mân Côi, đức ái là động lực thôi thúc chị em hiến mình phục vụ tha nhân trong mọi công tác tông đồ mà chị em đảm nhiệm. Theo Đức Cha Tổ Phụ, chị em Mân Côi phải luôn làm mọi việc với ý ngay lành, với tinh thần siêu nhiên. Chính tinh thần Đức Ái của Dòng giúp chị em thắng lướt mọi trở ngại, dấn thân vô vị lợi và làm cho công việc có giá trị lớn lao”[1].

Điểm thực hành:

Tâm tình của chị em Mân Côi khi ra đi thi hành sứ vụ là :
- Giữ cho tâm hồn được luôn nhẹ nhàng thanh thoát, không dính bén vào bất cứ người, vật hay điều gì.
- Sống gắn bó mật thiết với Chúa Giêsu và chỉ tìm cách làm vinh danh Chúa.
- Làm việc tông đồ bằng một trái tim đong đầy yêu thương.

KẾT

Sau khi được kêu gọi đi theo Chúa, được huấn luyện để trở thành người nữ tu tông đồ, chúng ta được Chúa sai vào các môi trường tông đồ của Hội Dòng. Đã nhiều lần chúng ta được sai đến các môi trường khác nhau và chúng ta cũng có kinh nghiệm phần nào về cách thức làm việc tông đồ thế nào cho có hiệu quả. Ơn gọi của chúng ta không chỉ là để thi hành một sứ mạng, nhưng trước hết là đi vào sự kết hợp mật thiết với Chúa. Khi đã gắn bó với Chúa, chúng ta được mời gọi chu toàn sứ mạng với một tâm hồn thanh thoát và một trái tim lan tỏa tình yêu thương. Ý thức được sứ mạng này, chúng ta sẽ thoát được nguy cơ chỉ lao đầu vào công việc hoặc chỉ cậy dựa vào sức mình.
Trong một thế giới đang dần đánh mất những giá trị siêu việt, các nữ tu Mân Côi được mời gọi nhận lấy lối sống của Chúa Giêsu làm lối sống riêng của mình, để được trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu, biết chọn Chúa là hạnh phúc duy nhất của mình, còn những sự khác sẽ được Chúa ban thêm cho. Xin Mẹ Maria giúp chúng ta luôn đi theo tinh thần và đường hướng của Chúa, luôn biết ở lại trong Chúa sâu hơn và bước theo Chúa sát hơn để tâm hồn được thanh thoát bình an, không bám víu vào cuộc sống này và cũng chẳng lệ thuộc điều chi ngoài Thiên Chúa là tất cả cho cuộc sống và cho mọi hoạt động của chúng ta.

M. Rose Vũ Loan, Fmsr

________________________________________

[1] Hiến luật Dòng Chị Em Con Đức Mẹ Mân Côi số 41.4