plumeria dewCàng lớn tuổi, càng phải học cách khắc chế bản thân, có vậy tương lai mới ngày càng suôn sẻ hơn.

Sinh ra là người vốn dĩ thực sự khó khăn: những điều khiến chúng ta hạnh phúc thường khiến chúng ta xuống dốc và chán chường, còn nếu muốn sống tốt thì lại phải làm điều gì đó khiến ta cảm thấy đau đớn.

Lúc còn trẻ, chúng ta được quyền sai và có đủ vốn để làm sai, chúng ta có thể sống theo bản năng, sống với mong muốn của mình. Nhưng khi tuổi càng cao, cái giá của phạm sai lầm cũng càng ngày càng cao, lại càng không thể làm những gì mà mình muốn.

Càng lớn tuổi, càng phải "gỡ bỏ" những thứ sau đây, nếu không thì sớm muộn gì bạn cũng sẽ bị hủy hoại.

1. Những niềm vui dễ dàng có được

Niềm vui có thể dễ dàng đạt được là gì? Đó là những niềm vui khiến bạn "sảng khoái" mà không phải bỏ ra quá nhiều.

Chẳng hạn như rượu, chỉ với một ít tiền có thể khiến bạn vui cả đêm, nghiêm trọng hơn là ma túy, cờ bạc...

Tác hại của những điều như vậy đối với con người, đặc biệt về tâm lý là rất nghiêm trọng. Một khi bạn đã quen với những thứ như vậy, bạn sẽ không còn muốn tiếp nhận những thứ đòi hỏi lâu dài mới có được niềm vui như học tập, thể dục thể thao hay làm việc chăm chỉ...

2. Vùng thoải mái

Thời đại hiện nay quả thực thay đổi quá nhanh. Cuộc sống của những người sống 200 năm trước và sống 2000 năm trước có thể không có sự khác biệt là mấy, nhưng cuộc sống của những người sống ở hiện tại và 20 năm về trước lại khác biệt đáng kể.

Thời đại thay đổi quá nhanh, không còn có chuyện một kỹ năng, một công việc hay một lối sống có thể kéo dài, tồn tại suốt đời. Vì vậy, học tập suốt đời và không ngừng thách thức bản thân đã trở thành các "thao tác" cơ bản.

Trở ngại lớn nhất trên con đường thích ứng với sự thay đổi của thời đại chính là vùng thoải mái. Một khi chúng ta lún sâu vào một môi trường quen thuộc, cuộc sống quen thuộc, chúng ta sẽ không còn muốn thay đổi, không còn muốn chạm vào những điều chưa biết cho đến khi chúng ta bị thời đại bỏ lại phía sau.

3. Làm tê liệt chính mình

Trong thế giới này, đại đa số những người không thể thành công đều là bởi họ tự tê liệt chính mình.

Dẫu sao thì khi một người nỗ lực nhưng không nhận lại được kết quả như mong đợi, họ tự nhiên sẽ cảm thấy lo lắng và áp lực, rồi sau đó, tiềm thức của họ sẽ tự đưa ra một quyết định sai lầm: làm tê liệt bản thân.

Các đặc điểm cụ thể là: tự lừa dối, phủ nhận sự thật, cố tình quên đi sự thật, buông thả bản thân, vô trách nhiệm...

Nếu không thể vượt qua nó, vậy thì cuộc sống của bạn về cơ bản đã là con số 0 tròn chĩnh.

Nhắc nhở: Càng lớn tuổi, càng phải học cách khắc chế bản thân, có vậy tương lai mới ngày càng suôn sẻ hơn.

Nguyễn Thị Hồng Đào

plumeria dewTình yêu của người trưởng thành thường hướng xa hơn, chứ không còn dừng lại ở mức chỉ cần cảm thấy thích thì được còn tương lai thì tính sau. Có lẽ họ biết họ không còn quá dư thời gian để yêu.

Tình yêu là một khái niệm ta không thể nào định nghĩa một cách chính xác. Ta càng không thể áp đặt tình yêu của ai đó phải giống mình, vì có lẽ tình yêu luôn được hình thành theo cảm nhận của mỗi người. Có lẽ thế, nên mỗi người đều có cách thể hiện tình yêu chẳng giống nhau.

Có thể là một tình yêu đầy xa hoa của những cặp đôi sang chảnh, hay tình yêu đầy nồng nhiệt của lứa tuổi vừa chập chững vào yêu, cũng có thể là tình yêu để thể hiện mình đã “lớn” của những cô cậu mới lớn đã thích hơn người. Tất cả đều được họ gọi là tình yêu!

Nhưng riêng những người đã từng trải qua những chông chênh trên đường tình, đã thấy được những giả dối lọc lừa, đã ngán ngẩm cái tình yêu vội vã yêu rồi vội vã rời thì tình yêu giản dị hơn hẳn.Có lẽ khi càng trưởng thành thì tình yêu càng trở nên bình dị, vì đã qua rồi cái thời yêu cuồng sống vội của cái tuổi trẻ ngang bướng và cố chấp.

Khi trưởng thành rồi ta chỉ muốn bên cạnh người ta cảm thấy an toàn và tin tưởng. Ta không còn đưa ra hàng trăm tiêu chí để lựa chọn, ta không còn thích những chàng trai, những cô gái với vẻ ngoài bóng bẩy, mùi nước hoa thơm lừng khắp người hay là một ánh mắt đa tình cùng với một nụ cười tỏa nắng có thể thu hút tất cả những ánh mắt khác hướng về họ.

Ta nhận thức được vẻ đẹp bên ngoài không thể làm ta hạnh phúc, khi anh ta/cô ấy biết được lợi thế của mình thì bạn chỉ là một trong sự lựa chọn.

Tình yêu của người trưởng thành thường hướng xa hơn, chứ không còn dừng lại ở mức chỉ cần cảm thấy thích thì được còn tương lai thì tính sau. Có lẽ họ biết họ không còn quá dư thời gian để yêu nhiều lần như thế nữa.

Những người bắt đầu trưởng thành họ đánh giá cao những chàng trai/ cô gái có tính cầu tiến hơn là thiên về gia thế. Họ có thể yêu một chàng trai/ cô gái bình thường nhưng người đó có chí vươn lên vì người yêu, anh ấy/ cô ấy không quá sành điệu nhưng anh ấy/cô ấy có thể lo lắng cho bạn hơn cả họ.

Vì họ biết được những gì của người ta thì vẫn mãi là của người ta, đừng quá tham vọng những thứ vốn dĩ không thuộc về mình. Chỉ có chàng trai/cô gái đó là của họ, chỉ cần cùng nhau cố gắng, cùng nhau vươn lên thì mọi khó khăn chông gai cũng đều có thể vượt qua tất cả.

Đã qua rồi cái thời yêu cuồng sống vội, giờ chỉ cần một tình yêu giản dị nhưng yên bình. Không cần quá phô trương khi bước cạnh nhau, chỉ cần một cái ôm nhẹ sau lưng, một ánh mắt chân thành khi cảm thấy mệt mỏi.

Không cần đưa nhau đi check-in những nhà hàng sang trọng, chỉ cần ngồi bên nhau ăn những món lề đường cũng thấy ấm áp vô cùng, vì ta muốn yêu bằng trái tim chân thành, không hơn thua tính toán, không so hơn tính thiệt với người.

Không cần “up” quá nhiều hình tình tứ trên mạng xã hội, chỉ cần khẽ cười nói em đã có người yêu khi ai đó tán tỉnh trêu đùa. Ta biết tình yêu ta lúc này xúc phát từ trái tim, ta không thích quá ồn ào náo nhiệt, ta chỉ muốn được yên bình lặng lẽ ở cạnh nhau.

Không cần thề non hẹn biển với nhau chỉ cần âm thầm giữ gìn mối quan hệ. Vì nhau cố gắng vì nhau thay đổi. Tình yêu trưởng thành giản dị lắm, chỉ cần nghĩ đến nhau khẽ mỉm cười, rồi vội lấy điện thoại nhắn với ai kia một câu sau một ngày dài bận rộn: “Ngủ ngon nhé”!

Nguyễn Thị Hồng Đào

plumeria dew

Hai câu chuyện dưới đây sẽ là minh chứng rõ ràng cho thấy bạn phải luôn sống trọn mọi khoảnh khắc.

Câu chuyện thứ nhất: Vua Yudhisthira và người ăn xin

Ngày xưa, có một người ăn xin đến gặp vị vua của vùng đất Indraprastha (thuộc Ấn Độ cổ đại) tên là Yudhisthira, cầu xin được giúp đỡ. Khi đó, vua Yudhisthira đang bận nên đã bảo người ăn xin rằng "Ngày mai hãy đến".

Nghe thấy vậy, người ăn xin đành lầm lũi bỏ đi. Ngay sau đó, Bheema, em trai của vua Yudhisthira đã cầm một chiếc trống lớn và đánh trống một cách điên cuồng. Với mỗi một lần gõ, anh lại bước một bước về phía trước.

Vua Yudhisthira chứng kiến cảnh này, lấy làm ngạc nhiên lắm, nên đã đi tới hỏi Bheema nguyên do. Bheema đáp lại: "Anh trai, em vừa phát hiện ra là anh là một nhà tiên tri, nên em muốn nói cho cả vương quốc biết về chuyện này".

Yudhisthira vô cùng sửng sốt trước câu trả lời, nhìn cậu em trai một cách hồ nghi và hỏi lại: "Ý em là gì?"

Bheema mỉm cười, đáp lời: "Chẳng phải anh vừa bảo người ăn xin ngày mai hãy quay lại hay sao? Làm sao anh biết ngày mai anh ta vẫn còn sống? Làm sao anh biết ngày mai anh vẫn ở đây?

Mà cho dù cả 2 người vẫn còn sống đi, làm sao anh dám chắc được rằng anh vẫn còn ở vị thế có thể ban phát thứ gì đó cho anh ta? Anh làm sao biết anh ta có còn cần thứ gì đó của anh hay không? Làm sao anh biết 2 người chắc chắn có thể gặp nhau vào ngày mai?

Đó là lý do em nói anh là nhà tiên tri, và em muốn mọi người ở vương quốc này đều biết điều đó".

Đến lúc này, Yudhisthira mới vỡ lẽ ngụ ý đằng sau lời nói của em trai, vội vàng gọi người ăn xin, lúc này vẫn chưa đi xa quay lại, và cho anh ta sự giúp đỡ mà anh ta cần.

Lời bàn: Dù là bất cứ ai, chúng ta cũng không thể nào chắc chắn được chuyện gì sẽ xảy ra trong tương lai. Chính vì thế, nếu có thể, hãy sống trọn từng khoảnh khắc, chuyện gì làm được thì phải làm ngay, người nào cần giúp, phải giúp ngay, để không còn gì hối tiếc, phải ân hận.

Câu chuyện thứ 2: Alexander Đại đế và lời tiên tri của triết gia

Khi Alexander Đại đế (356 – 323 TCN) – một vị vua vĩ đại của Hy Lạp cổ đại đang trên đường tới chinh phục Ấn Độ, ngài đã quyết định phải gặp một triết gia Hy Lạp kỳ lạ tên là Diogenes (404 - 323 TCN). Vì đã nghe nhiều câu chuyện về Diogenes nên Alexander rất quan tâm đến ông ta. Nghe nói ông ta sống bên cạnh một con sông nên Alexander đã tìm đến đây.

Hôm đó là một buổi sáng mùa đông. Từng cơn gió lạnh buốt thổi hun hút bên bờ sông, thế nhưng, Diogenes lại cởi trần, nằm trên một bãi cát để tắm nắng.

Là một đấng quân vương, nhưng khi đứng trước Diogenes, vị vua của Hy Lạp vẫn tỏ ra rất khiêm nhường: "Thưa ông tôi muốn làm điều gì đó cho ông. Có điều gì tôi có thể làm cho ông không?"

Trước vinh hạnh này, Diogenes vẫn tỏ ra bình tĩnh và đáp lại một câu khiến những người có mặt đều sửng sốt: "Xin ngài đứng tránh sang một bên vì ngài đang che mất ánh nắng của tôi. Thế thôi. Tôi không cần gì hơn".

Ấn tượng trước khí phách tuyệt vời của người đàn ông kỳ lạ, Alexander lại nói tiếp: "Nếu được tái sinh lần nữa, tôi sẽ xin Thượng đế cho tôi trở thành Diogenes chứ không phải là Alexander đại đế."

Diogenes mỉm cười và bảo: "Cái đó thì ngài cần gì xin, vì hiện giờ có ai cấm ngài làm đâu? Ngài có thể trở thành Diogenes mà. Ngài đang định đi đâu thế? Trong nhiều tháng nay, tôi đã thấy các đoàn quân di chuyển không ngừng. Các ngài định đi đâu và làm gì?"

Alexander nói mình đang chuẩn bị tới Ấn Độ để chinh phục cả thế giới.

"Vậy sau đó ngài sẽ làm gì?", Diogenes hỏi.

"Sau đó tôi sẽ nghỉ ngơi", Alexander trả lời.

Diogenes cười, đáp lại: "Ngài điên rồi, vì giờ tôi đang nghỉ ngơi, và tôi chưa từng chinh phục cả thế giới. Tôi thấy điều đó là không cần thiết. Nếu đến cuối cùng ngài chỉ muốn nghỉ ngơi, thư giãn thì sao không làm nó ngay bây giờ?

Ai bảo ngài rằng trước khi nghỉ ngơi thì ngài phải đi chinh phục thế giới? Tôi nói ngài nghe, nếu bây giờ ngài không nghỉ ngơi thì sẽ không bao giờ nghỉ ngơi được nữa, vì khi chinh phục xong chỗ này, ngài sẽ lại tiến đến mảnh đất khác. Ngài sẽ chết giữa cuộc hành trình của mình".

Alexander đáp lại: "Tôi sẽ luôn ghi nhớ điều đó, dù hiện giờ tôi vẫn chưa thể làm được nó. Nhưng cảm ơn lời khuyên của ông".

Thế rồi, Alexander tiếp tục con đường chinh chiến, và chết khi từ Ấn Độ trở về. Vào trước giờ phút lâm chung, ông đã nhớ đến Diogenes, trong đầu ông chỉ văng vẳng những lời nói của vị triết gia này, cả cuộc đời ông đã không được nghỉ ngơi, còn Diogenes thì đã được nghỉ ngơi suốt cả cuộc đời.

Lời bàn: Nhiều khi chúng ta cứ luôn theo đuổi những mục tiêu không ngớt trong cuộc sống, không dám nghỉ ngơi, không dám cho mình một phút giây tĩnh lặng để nhìn lại bản thân, để rồi có ngày có hối tiếc cũng không kịp.

Chức vụ càng cao, áp lực càng lớn, thời gian bỏ ra càng nhiều và đương nhiên, thời gian cho bản thân, thời gian hưởng thụ cuộc sống sẽ càng ít đi. Chính vì thế, hãy biết trân trọng, tận hưởng và nắm bắt từng khoảnh khắc mỗi ngày.

Nguyễn Thị Hồng Đào

 

Annunication

Vì yêu thương, Thiên Chúa đã dựng nên con người giống hình ảnh Ngài. Vì yêu thương nên Ngài đã đặt con người sống trong vườn Địa Đàng với biết bao ân huệ. Thế nhưng, con người nghe theo lời xúi giục của ma quỷ đã sa ngã phạm tội, nên bị Thiên Chúa tước mất mọi ân sủng, đuổi ra khỏi vườn Địa Đàng.

Dầu vậy, Thiên Chúa vẫn không bỏ rơi con người. Ngài đã nói với con rắn: “Ta sẽ đặt mối thù giữa mày và người nữ, Người Nữ sẽ đạp giập đầu mày”(St 3,15).

Khi tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Thiên Thần đến gặp Đức Mẹ và loan báo ý định của Ngài. Sau khi nghe Thiên Thần loan báo, Đức Mẹ bối rối vì không hiểu lời Thiên Thần, hay nói đúng hơn, Đức Mẹ phân vân giữa chức vụ làm mẹ Thiên Chúa và việc giữ mình đồng trinh, nên Mẹ thưa với Thiên Thần rằng: “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!” (Lc 1,34). Thiên Thần đã giải thích cho mẹ biết, việc Mẹ thụ thai và sinh con là do Chúa Thánh Thần. Để thuyết phục Đức Mẹ, Thiên Thần còn đưa ra dẫn chứng về việc thụ thai trong tuổi già của bà Êlizabet cách đây 6 tháng. Cuối cùng Thiên Thần kết luận: “Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được” (Lc 1,37).

Sau khi nghe Thiên Thần giải thích, Đức Mẹ đã thưa xin vâng: “Này tôi là tôi tới Chúa, tôi xin vâng như lời Thiên Thần truyền” (Lc 1,38). Nhờ tiếng thưa “Xin Vâng” của Mẹ, Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thể Làm Người, lịch sử Cứu Độ đã bắt đầu sang trang và biến Mẹ từ một thiếu nữ Do thái trở thành Mẹ của Ngôi Hai Thiên Chúa.

Khi nói về tầm quan trọng hai tiếng xin vâng của Mẹ, công đồng Vatican II đã lặp lại lời của các Giáo Phụ xưa rằng : Nút dây đã bị thắt lại do sự bất tuân của Evà, nay được gỡ ra nhờ sự vâng phục của Đức Maria. Điều mà Evà đã buộc lại bởi cứng lòng tin, Đức Maria đã tháo ra nhờ lòng tin; và so sánh với Evà, các ngài gọi Đức Maria là “Mẹ kẻ sống”, và thường quả quyết rằng : “Bởi Evà đã có sự chết, thì nhờ Maria lại được sống” (x. Lumen gentium, số 56). Thánh Bênađô thì kêu lên rằng: “Ôi trinh nữ, Adam đang khóc lóc cầu khẩn Mẹ trả lời, Đavit cũng khẩn cầu, các tổ phụ cũng không ngớt nài xin. Câu trả lời ấy cả thế giới này đang phủ phục dưới chân Mẹ và chờ đợi nó. Bởi việc giải thoát cho những ai đang đau khổ, chuộc lại kẻ giam cầm, trả tự do cho người bị kết án và sau cùng là phần rỗi của mọi con cái Adam, của toàn thể dòng dõi Mẹ đều tùy thuộc vào lời thưa của Mẹ”.

Đối với Mẹ, để thưa xin vâng, Mẹ phải chấp nhận hy sinh, hy sinh vì lòng yêu mến Thiên Chúa và yêu thương nhân loại. Lời thưa xin vâng của Mẹ, thể hiện sự phó thác tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa. Bởi vì, lời thưa xin vâng không chỉ thực hiện trong biến cố truyền tin mà còn kéo dài trong suốt cuộc sống của Mẹ. Sau biến cố truyền tin là cả hành trình dài đầy gian nan đau khổ. Từ việc bị Thánh Giuse hiểu nhầm, đến việc sinh con trong hang đá nghèo hèn, lạnh lẽo. Việc bà Anna loan báo về sự đau khổ của Hài Nhi khi Mẹ đưa Chúa Giêsu dâng trong đền thờ. Việc đưa con trốn sang Ai cập khỏi Hêrôđê lùng bắt. Suốt ba mươi năm tại làng quê Nazaret, Mẹ sống âm thầm cùng với Thánh Giuse nuôi Chúa Giêsu khôn lớn. Sau đó, Mẹ đã đồng hành với con suốt ba năm trên mọi nẻo đường rao giảng Tin mừng. Đặc biệt, khi Mẹ chứng kiến cuộc khổ nạn và cái chết của con mình trên thập giá... Qua những biến cố đau thương như vậy, để thưa xin vâng, Mẹ phải có một niềm phó thác và một đức tin vững mạnh vào Thiên Chúa. Chính bà Êlizabeth đã xác nhận điều đó khi nói với Mẹ rằng: “Em thật có phúc vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em” (Lc 1,45). Như vậy, để cộng tác với Chúa Giêsu trong việc cứu rỗi nhân loại, Mẹ Maria đã thực hiện lời xin vâng một cách trọn vẹn bằng cả cuộc sống.

Đối với chúng ta hôm nay, sự vâng lời luôn luôn cần thiết: Người dưới vâng lời người trên, con cái vâng lời cha mẹ, học sinh vâng lời thầy cô, vợ chồng lắng nghe nhau... Đó không chỉ là nét đẹp của cuộc sống hằng ngày và để gia đình, xã hội có tôn ti trật tự mà còn là điều kiện để gia đình hạnh phúc và xã hội bình yên. Chúng ta thử hình dung: Nếu trong một gia đình mà con cái không vâng lời cha mẹ, vợ chồng không biết lắng nghe nhau; ở nhà trường, học sinh không vâng lời thầy cô; xã hội không có trên dưới... thì gia đình, nhà trường, xã hội đó sẽ như thế nào? Thực tế cho chúng ta thấy, vì không biết vâng lời cho nên con cái hư hỏng, trò đánh thầy, hỗn loạn nhiều nơi trong xã hội chúng ta đang sống.

Trong lĩnh vực tôn giáo, “Đức Vâng Lời” lại còn quan trọng hơn gấp bội phần. Đức vâng lời được thể hiện qua việc lắng nghe tiếng Chúa. Tiếng Chúa qua Lời Chúa và các giới răn. Thực hành lời Chúa và tuân giữ các giới răn của Chúa một cách trọn vẹn là chúng ta đang giữ nhân đức vâng lời.
Đức vâng lời còn được thể hiện qua việc vâng nghe sự dạy bảo của các vị bề trên coi sóc linh hồn chúng ta. Đó có thể là Đức Giáo Hoàng, các Giám Mục, linh mục hay cha mẹ anh chị của chúng ta. Đối với các cộng đoàn dòng tu, vâng lời các vị bề trên không chỉ là nhân đức mà còn thực hiện một trong ba lời khấn.

Việc tuân giữ đức vâng lời không phải lúc nào cũng dễ dàng, nhất là khi không hiểu ý bề trên (như trường hợp của Đức Mẹ) hay khi sự vâng lời đó đòi hỏi chúng ta phải chấp nhận hy sinh, thậm chí là phải đổ máu (như trường hợp các thánh tử đạo). Vì vậy, chúng ta cần phải cố gắng luôn và trong mọi hoàn cảnh hãy thưa với Thiên Chúa như Chúa Giêsu trong vườn Cây Dầu : “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26,39).

Nhờ tiếng xin vâng của Mẹ Maria, nhân loại đã bước sang một trang sử mới là trang sử Cứu Thế. Ngày hôm nay, để viết lên những trang sử đẹp, rất cần nhiều tiếng thưa xin vâng trong gia đình, Giáo Hội và xã hội. Xin Chúa giúp mọi người chúng ta biết noi gương Mẹ, chấp nhận hy sinh để luôn thưa xin vâng trong những điều đẹp ý Chúa. Amen.

Lm. Anthony Trung Thành

Our Lady of LourdesNgày Quốc tế bệnh nhân

 

Bernadette là một thiếu nữ yếu ớt, con của hai ông bà người nghèo và không có tham vọng. Việc sống đạo của họ cũng không có gì đáng nói. Bernadette chỉ biết đọc kinh Lạy Cha, Kính Mừng và kinh Tin Kính. Cô còn biết đọc kinh cầu Linh ảnh ĐỨC MẸ: “Ôi Ðức Maria được thụ thai mà không mắc tội.”

Trong những lần phỏng vấn, Bernadette cho biết những gì cô được nhìn thấy. Cô cho biết “cái gì đó màu trắng trong hình dạng một thiếu nữ.” Ðó là “một thiếu nữ xinh đẹp với chuỗi tràng hạt trên tay.” Áo choàng trắng của ngài có viền xanh. Ngài đội khăn trắng. Trên mỗi bàn chân đều có hoa hồng màu vàng. Bernadette cũng ngạc nhiên ở sự kiện là trinh nữ này không gọi cô với danh xưng thân mật “em” (tu), nhưng với ngôn từ rất lịch thiệp “cô” (vous). Người trinh nữ khiêm tốn ấy hiện ra với một cô gái bình dân và đã đối xử với cô như một người có phẩm giá.

Qua một cô gái bình dân, Ðức Maria đã làm hồi sinh và tiếp tục làm sống dậy đức tin của hàng triệu người. Dân chúng bắt đầu đổ về Lộ Ðức từ khắp nơi trong nước Pháp cũng như toàn thế giới. Vào năm 1862, giới thẩm quyền Giáo hội công nhận tính cách xác thực của những lần hiện ra và cho phép sùng kính Ðức Mẹ Lộ Ðức. Năm 1907, lễ Ðức Mẹ Lộ Ðức được cử hành mừng khắp hoàn vũ.

ĐỨC MẸ CHỮA LÀNH NHIỀU BỆNH NHÂN VÀ BAN CHO NHIỀU NGƯỜI ƠN QUAY TRỞ VỀ VỚI CHÚA:

Tại Lộ Đức, Đức Mẹ với tấm lòng yêu thương dạt dào đã chữa lành biết bao bệnh nhân tật nguyền với biết bao loại bệnh khác nhau và ban cho nhiều người ơn ăn năn sám hối. Từ 1 tháng 3 năm 1858 có hằng hà sa số người đã tới Lộ Đức để xin Đức Mẹ chữa lành, tắm suối nơi dòng nước Bernadette đã tìm ra. Trong số 5.000 phép lạ chữa lành, Hội Thánh đã công nhận 65 vụ được khỏi bệnh là những phép lạ thật do lòng xót thương của Đức Mẹ. Ðối với những người có đức tin thì không có gì ngạc nhiên. Ðó là sứ vụ chữa lành của Chúa Giêsu được tiếp tục thể hiện qua sự can thiệp của Mẹ Người.

Nhiều người cho rằng các phép lạ lớn lao hơn thì rất bàng bạc. Nhiều người đến Lộ Ðức và trở về với một đức tin được đổi mới, sẵn sàng phục vụ Thiên Chúa trong các nhu cầu của tha nhân. Tuy nhiên vẫn còn nhiều người nghi ngờ việc hiện ra ở Lộ Ðức. Ðể nói với họ, có lẽ tốt hơn là dùng những lời mở đầu của cuốn phim “Tiếng hát của Bernadette (Song of Bernadette)”: “Với những ai tin vào Chúa thì không cần giải thích. Với những người không tin, thì chẳng sự giải thích nào đầy đủ.”

Đức Thánh Cha Lêô XIII đã ban phép cho một vài miền được mừng Kính lễ Đức Mẹ Lộ Đức và vào năm 1908, Đức Giáo Hoàng Piô X đã phổ biến lễ này trong toàn Giáo hội.

Lm. Đaminh Phạm Xuân Uyển SDB

Mary MotherofGodThánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời,

Tên Maria của Đức Mẹ được thánh Bênađô giải thích là Ngôi sao biển: Như ngôi sao toả ra các tia sáng mà không bị lu mờ, Mẹ Maria là người Trinh Nữ sinh một hài nhi nam là Đức Giêsu, mà không thiệt hại gì về sự trinh khiết vẹn toàn.

Nơi Mẹ Maria cô đọng tất cả sự dịu dàng của phái nữ, tích tụ tất cả vẻ đẹp của vũ trụ. Mẹ Maria là hiện thân của sự Duyên Dáng: sự hoà hợp của những đường nét thanh tao, sự chiếu toả của ánh sáng đôi mắt, sự dịu dàng của nụ cười trên môi...

Thể xác Mẹ Maria xinh đẹp, nhưng tâm hồn của Mẹ còn đẹp gấp nhiều lần. Mẹ là tác phẩm đẹp nhất của Chúa Thánh Thần. Tâm hồn Mẹ trong trắng tinh tuyền, Mẹ hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa. Có thể ví tâm hồn Mẹ với cây đàn hoàn toàn rung theo bàn tay nghệ sĩ là Chúa Thánh Thần. Tâm hồn Mẹ như bài thánh ca tuyệt diệu làm cho Thiên Chúa thích thú và vui sướng. Mẹ là Đấng đầy Hồng Phúc, tràn trề Thiên Ân. Maria là Mẹ của Chúa Giêsu là Đấng Thiên Ân Nhập Thể.

Maria vừa là Mẹ, vừa là trinh nữ. Việc làm Mẹ của Maria có một bản chất đặc biệt: người con của Mẹ được thụ thai nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần, và Đấng Thánh sinh ra được gọi là Con Đấng Tối Cao. Một Vị Thiên Chúa Nhập Thể làm người nơi thân xác của một trinh nữ chỉ thực hiện được do công trình của Thiên Chúa, và đó là Việc Kỳ Diệu lớn nhất của Thiên Chúa cũng như Kỳ Công Phục Sinh Chúa Giêsu từ cõi chết.

Là thành viên của gia đình nhân loại, là người thiếu nữ xinh đẹp được sinh ra bởi hai ông bà Gioakim và Anna, Mẹ Maria cũng là thành viên của gia đình Thiên Chúa, vì Mẹ đã trở thành Mẹ Thiên Chúa trong thời gian và trong cõi vĩnh hằng. Sinh ra Chúa Giêsu, Mẹ Maria vĩnh viễn là Mẹ Chúa Giêsu; mà Chúa Giêsu là Thiên Chúa, nên Mẹ Maria vĩnh viễn là Mẹ Thiên Chúa.

Maria là Mẹ của Đấng Tạo Dựng trời đất, là Mẹ của Đấng Cứu Thế. Con trẻ mà Mẹ cưu mang, sinh hạ, cho bú, chăm sóc, Mẹ bồng bế cho mọi người chiêm ngưỡng, là Thiên Chúa làm người. Maria vừa có thể gọi hài nhi ấy “Con ơi!”, vừa thưa với ngài “Lạy Chúa!”.

Maria, Mẹ của Chúa Giêsu, cũng là Mẹ của tất cả chúng ta. Đức Giêsu là Đại biểu hoàn hảo và xứng đáng nhất của toàn thể nhân loại. Thâu hồi toàn thể nhân loại nơi bản thân mình, Đức Giêsu Kitô đã làm cho Mẹ Ngài trở nên Mẹ của tất cả mọi người. Vã lại, Đức Giêsu, trên cây thập tự đã trối Mẹ Maria lại cho thánh Gioan, và qua Gioan, cho tất cả Hội Thánh, cho tất cả nhân loại chúng ta. Nhân loại là một gia đình gồm những người con được tiền định làm con cái của Thiên Chúa, và con cái của Mẹ Maria.

Ước gì tên Maria mãi mãi ở trên môi miệng chúng ta và đừng bao giờ rời bỏ trái tim chúng ta. Mẹ yêu ta, ta yêu Mẹ, chúng ta yêu thương nhau vì là con cùng một Mẹ. Ta hãy xin Mẹ cầu thay nguyện giúp cho ta, nhưng cũng đừng quên noi gương của Mẹ. Bước theo Mẹ, ta không bao giờ lạc lối; cầu nguyện với Mẹ, ta không thất vọng bao giờ; tham khảo ý kiến của Mẹ, ta sẽ không sai lầm. Mẹ nâng đỡ, ta không dễ dàng sa ngã; Mẹ chở che, ta không phải sợ gì; Mẹ đưa dẫn, ta không còn mệt mõi; Mẹ nhậm lời, chắc ta sẽ thành công.

Đức cha Phaolô Bùi Văn Đọc