Immaculate ConceptionMẸ ĐẦY ƠN PHÚC

Hôm nay, Giáo hội Hoàn vũ long trọng mừng lễ Mẹ Vô Nhiệm Nguyên Tội. Chúng ta hãy vui mừng vì đó là một đặc ân của Thiên Chúa trao ban cho Mẹ Maria và cho nhân loại. Mỗi năm chúng ta mừng kính lễ Mẹ Vô Nhiễm, nhưng chúng ta đã hiểu thế nào là vô nhiễm nguyên tội nơi Mẹ Maria? Và Giáo Hội đã long trọng tuyên tín điều này như thế nào?

Trước hết, việc Thiên Chúa tuyển chọn Mẹ Maria trong chương trình cứu độ nhân loại là một việc có một không hai trên cõi đất này. Thiên Chúa đã chọn Mẹ để làm Mẹ của Đấng Cứu thế và Mẹ của nhân loại. Vì thế, Thiên Chúa phải bảo vệ Mẹ khỏi nhiễm vương nguyên tội, bằng cách sai Thánh Thần đến với Đức Trinh Nữ Maria ngay khi Mẹ còn nằm trong lòng bà thánh Anna. Như vậy, Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ Maria từ khi có sự kết hợp giữa thánh Anna và Gioakim. Các Ngài được một ơn sủng đặc biệt để việc thụ thai Đức Mẹ được bảo toàn khỏi tội Tổ tông. Chúng ta hiểu một cách đơn giản rằng: Đức Mẹ là Đấng sinh ra Chúa Giêsu, Đấng Cứu Thế. Vì thế, Thiên Chúa đã gìn giữ Mẹ Maria thật nguyên tuyền, thật trinh trắng và không hề mang tì vết nơi bụi trần: đó là đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội mà chúng ta mừng lễ ngày 8 tháng 12 hôm nay.
Đức Giáo Hoàng Piô IX đã long trọng tuyên bố tín điều này ngày 8/12/1854 qua Hiến chế Ineffabilis Deus: “Chúng tôi công bố và xác nhận rằng tín điều về Đức Maria, ngay lúc được thụ thai, nhờ đặc ân và đặc quyền của Thiên Chúa Toàn năng, vì công nghiệp của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ nhân loại, được giữ không mắc Nguyên tội, là tín điều được Thiên Chúa mạc khải, và vì thế mỗi tín hữu phải luôn tin vững vàng”.
Lại một lần nữa, tín điều trên được xác nhận một cách rõ ràng lúc Đức Maria đã hiện ra với chị Bernadette Soubirous nơi động Massabielle, tại Lộ Đức vào ngày 25 tháng 3 năm 1858. Chính Mẹ Maria đã tuyên bố: “Ta là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội.”
Lời Chúa trong Tin Mừng theo thánh Luca hôm nay sẽ giúp chúng ta hiểu về ơn phúc nơi Mẹ Maria. Trong biến cố Truyền Tin, sứ thần Gáprien đã kính chào Mẹ là “Đấng đầy ân phúc”. Có nghĩa là Mẹ được Thiên Chúa yêu thương đặc biệt và trang điểm cho Mẹ với tất cả những gì quý giá nhất trên đời: là đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội.

Mẹ đầy ơn phúc vì Mẹ được đẹp lòng Thiên Chúa: “Thưa bà Maria, xin đừng sợ, vì bà được đẹp lòng Thiên Chúa và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu” (Lc 1,30-31); “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà” (Lc 1,35).
Mẹ đầy ơn phúc vì Mẹ đã nghe và thực hành Lời Chúa. Mẹ Maria đã đón nhận tất cả thánh ý của Thiên Chúa để được cưu mang Chúa Giêsu, Đấng Cứu Thế: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin được thực hiện cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc1,38).
Mẹ đầy ơn Phúc vì đức tin của Mẹ trổi vượt và là nền tảng để Mẹ nhận ra Thiên Chúa ở trong cung lòng Mẹ. Tiếng xin vâng của Mẹ đã làm thay đổi cả vũ trụ từ trời cao xuống nơi đất thấp. Kể từ giây phút ấy Ngôi Hai là Chúa Giêsu đã ngự trị trong lòng Đức Trinh nữ Maria. Chính vì đầy tràn ơn phúc như vậy, nên Mẹ đã cất cao bài ca ngợi khen (Magnificat): “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa ...”.
Mẹ đầy ơn phúc vì tất cả những gì mà Thiên Chúa làm nơi Mẹ không phải vì Mẹ đã xứng đáng nhưng còn vì đó là ân sủng đến từ Thiên Chúa, lòng từ bi và thương xót của Ngài. Mẹ Maria là lều hội ngộ mà Thiên Chúa đã có thể dựng nên giữa loài người để mời gọi ta chia sẻ sự sống của Người.
Mẹ Maria được ơn phúc và Mẹ đã vội vã lên đường đem ơn Chúa đến với người khác. Chúng ta cũng được ơn phúc làm con của Mẹ, chúng ta hãy bắt chước Mẹ “vội vã lên đường” mang ơn Chúa đến với người khác: là vợ chồng và con cái chúng ta, là bạn hữu chúng ta và là cộng đoàn tín hữu chúng ta để trở thành niềm vui và “Tin Mừng” cho nhau.

Mẹ đón nhận lời Chúa với tin yêu và hy vọng, mời gọi mỗi chúng ta hãy sống phó thác cho Thiên Chúa trong những buồn vui cuộc đời. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã đặt tin tưởng nơi Mẹ: “Đức Maria là người Mẹ làm cho chúng ta hy vọng”. Hoặc nói như Thánh Anphongsô Ligori đã quả quyết rằng: “ Nếu tôi thật lòng yêu mến Mẹ, thì tôi chắc chắn được lên thiên đàng”.
Nơi Đức trinh nữ Maria là dấu chỉ tràn đầy Tình Yêu và Hy Vọng của mỗi tín hữu chúng ta. Mẹ chính là Mùa Xuân của nhân loại, Mẹ chính là “Evà mới” của Giáo hội và là nguồn cậy trông của chúng ta. Chúng ta nhìn lên Mẹ Maria như mẫu gương của lòng cậy trông, kiên nhẫn và phó thác. Chúng ta hãy vui mừng vì những gì Mẹ đã được đón nhận bởi đó là tất cả những gì Thiên Chúa muốn trao ban cho chúng ta. Chúng ta thật có lý để vui mừng vì qua Mẹ, với Mẹ và trong Mẹ chúng ta biết được rằng Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô vàn. Ngài đã tìm mọi cách để ta có thể hiểu được tình yêu bao la của Ngài.
Để mừng lễ Mẹ Vô Nhiêm Nguyên Tội hôm nay một cách có ý nghĩa nhất, tất cả chúng ta được mời gọi noi gương Đức Mẹ: sống khiêm nhường và phó thác vào tình yêu của Thiên Chúa. Xin Chúa Thánh Thần đến đổi mới tâm hồn chúng ta như Ngài đã đến trong lòng Đức Mẹ; xin Ngài thánh hóa tâm hồn chúng ta khỏi mọi lụy vương của tội lỗi, giúp ta cảm nghiệm được những ơn lành Chúa ban và giúp ta mau mắn đáp lại tình yêu thương đó.

Lm. Phêrô Nguyễn Trọng Đường, SVD

memorial presentation blessed virgin mary1Dù không được Phúc Âm nhắc đến, nhưng theo truyền thuyết (Tiền Phúc Âm của thánh Giacôbê), từ khi ba tuổi, Đức Mẹ đã được gia đình đưa lên đền thánh để dâng mình cho Thiên Chúa và đã lưu lại đó cho tới lúc trọn tuổi mười hai. Đây là một thói quen đáng kính của các gia đình đạo hạnh và cũng là biến cố đáng ghi nhận trong đời Đức Trinh Nữ Maria. Chả thế mà trong lịch phụng vụ của Giáo Hội đông phương, đã thấy xuất hiện lễ Đức Mẹ Dâng Mình từ thế kỷ VII, và tiếp theo là phụng vụ của Giáo Hội tây phương từ thế kỷ IX. Chính các Đức Giáo Hoàng Sixtô IV năm 1472 và Sixtô V năm 1585 đã cổ võ mừng kính lễ này cách đặc biệt và gần đây, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã xem lễ Đức Mẹ Dâng Mình là một trong những lễ tuyệt diệu và coi đó như hình mẫu của đời dâng hiến. Trong niềm hân hoan, chúng ta nhận diện ý nghĩa biến cố dâng mình trong đời Đức Mẹ.

1. Dâng mình là tìm gặp Thiên Chúa

Theo nhãn giới sách tiên tri Dacaria trong bài đọc một, khi dân Do thái trở về sau cuộc lưu đày, thì đền thờ Giêrusalem không chỉ là không gian biểu thị sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa dân, mà còn là nơi chốn diễn ra cuộc gặp gỡ của Thiên Chúa với mọi tâm hồn đạo đức. Đền thờ không dừng lại trong vai trò là nơi thánh dành cho việc phụng tự, nhưng đã mở ra một tầm vóc mới là địa chỉ của việc tiếp cận. Chính với đền thờ người ta nghiệm rõ hơn phẩm tính của Thiên Chúa là “Đấng vui thích ở giữa dân”, và cũng hiểu thực hơn lý do tại sao dân lại “rộn rã vui mừng khi nghe người người rủ nhau lên đền thờ Chúa”. Thì ra, đền thờ là không gian thánh thiêng đã được Thiên Chúa chọn lựa như nơi hẹn hò cứu độ dành cho con dân của Người. Và vì thế, lên đền thờ Chúa đã vượt quá một nhiệm vụ tôn giáo, dù được quy định bởi luật lệ hẳn hòi, để trở thành một giai đoạn vinh dự đời người và niềm tự hào cho cả dân tộc.

Khi Đức Maria ở tuổi lên ba được cha mẹ là ông Gioakim và bà Anna dẫn lên đền thánh Giêrusalem để dâng mình cho Chúa, thì về mặt tự nhiên chắc chắn chỉ là việc chu toàn phận vụ đạo đức theo thói quen tôn giáo. Ba tuổi cứ bình thường chưa phải là tuổi đã khôn, nếu không muốn nói là còn ngây thơ đơn sơ dại khờ. Nhưng về mặt quan phòng còn có ý nghĩa lớn lao hơn, đây là một việc tuyệt diệu Đức Mẹ thực hiện trong tuổi thơ đời mình nhằm gặp gỡ Thiên Chúa. Tất nhiên Thiên Chúa là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời đất, có mặt ở khắp nơi, không nơi nào dù là đạo hay đời mà không có sự hiện diện của Người, nhưng có một nơi Người chắc chắn hiện diện thường xuyên, đó là nhà của Người chính là đền thờ. Vì thế, biến cố lên đền đã sớm mang lấy ý nghĩa tích cực và đích thực: Đức Mẹ dâng mình vào nhà của Chúa là để được thường xuyên gặp gỡ Chúa và hạnh phúc sống dưới mái nhà và dưới ánh nhìn trìu mến của Chúa.

2. Dâng mình là tìm biết và làm theo thánh ý

Theo nhãn giới của bài Phúc Âm trích đọc, khi Chúa Giêsu chỉ các môn đệ và giới thiệu “Mẹ và anh em Ta là những kẻ làm theo thánh ý”, chính là lúc Người khai mở một gia đình mới, không dựa trên huyết thống, cũng không giới hạn nơi các thành viên một dòng họ hoặc dừng lại trong một chi tộc, ngôn ngữ, mà bao gồm tất cả mọi người, miễn là biết nhận biết và thực thi thánh ý. Nếu toàn bộ lời giảng của Chúa Giêsu được gọi là Tin Mừng thì lời giới thiệu “Mẹ và anh em” này phải được xem như một khía cạnh reo vui hiện thực nhất của Tin Mừng ấy. Ai cũng có khả năng trở thành người nhà của Chúa Giêsu, ai cũng có điều kiện để hội nhập vào trong gia đình thánh, và ai cũng có thể trở nên anh chị em gần gũi với Người. Chúa Con đã xuống thế làm người theo ý Chúa Cha, và đã chịu khổ nạn vì tội lỗi nhân loại cũng để vuông tròn thánh ý. Những ai hôm nay làm theo thánh ý như Chúa Giêsu, họ cũng đang trở thành anh em của Người.

Người ta không biết chính xác những việc cụ thể Đức Mẹ đã làm trong suốt tuổi thơ lưu lại đền thánh, có thể là việc trực tiếp như câu kinh tiếng hát sớm tối phượng thờ, cũng có thể là việc gián tiếp như phục vụ dọn dẹp trang hoàng đền thánh, và chắc không thiếu những việc không tên theo yêu cầu của các chức sắc tôn giáo hay theo nhu cầu của nghi lễ hằng ngày. Ăn cơm Chúa múa tối ngày. Ở trong nhà Chúa thì phải làm việc của Chúa, đương nhiên, nhưng chắc chắn có một việc mà Đức Mẹ hằng ngày vẫn canh cánh “trí suy, miệng nói, mình làm”, đó là để tâm đi tìm thánh ý và một khi đã biết thì nỗ lực thực thi. Chúa muốn Mẹ làm gì? Ý Chúa về đời Mẹ ra sao? Lễ dâng nào từng ngày cho Chúa? Tuổi thơ bé gái khác có thể vô tư với trò chơi đồ hàng hay gương lược, nhưng tuổi thơ Đức Maria nơi đền thánh lại là đánh chuyền với thánh ý và đánh chắt với việc làm cho thánh ý được thể hiện trong cả đời mình.

3. Dâng mình còn là tìm hun đúc cho sứ mệnh tương lai

Mới đây, dịp cô bé Phương Mỹ Chi trúng giải “Á quân giọng hát Việt nhí 2013” với hợp đồng trình diễn đó đây, báo chí đã coi đó như là “gặt lúa non” và cảnh báo cho biết bí quyết thành công bền lâu dưới ánh đèn sân khấu tỷ lệ thuận với những khổ luyện miệt mài trong bóng tối hậu trường. Một tác giả đạo đức phác vẽ kết quả của mỗi công trình thiêng liêng bằng một công thức ấn tượng là “50% ơn Chúa và 50% nỗ lực con người”. Theo quan điểm này, biến cố Đức Mẹ dâng mình và sống âm thầm trong đền thờ chính là thời gian Mẹ tận hiến cho một điều cao cả hơn và trọng đại hơn; có thể hình dung như giai đoạn chuẩn bị với những kỹ năng và hành trang cần thiết, để sẵn sàng đón nhận nhiệm vụ sẽ được Thiên Chúa trao gửi trong tương lai. Ngày đến đền thờ Mẹ còn là cô bé lớp chồi, nhưng ngày rời đền thờ Mẹ đã thành thiếu nữ Sion đẹp xinh không chỉ “nhất tóc, nhì da, thứ ba là dáng”, mà còn sực nức thơm hương nhân đức.

Chỉ cần nhìn vào biến cố Truyền Tin khi Đức Maria vâng theo ý Chúa, người ta cũng thấy đầy đủ những yếu tố cho phép hiểu rằng việc dâng mình của Mẹ trong đền thờ không đơn thuần là việc đạo đức, mà còn là công trình quan phòng nhằm chuẩn bị xa gần cho mùa cứu rỗi. Từ thái độ bối rối khi nghe lời sứ thần đề nghị biểu lộ sự ý thức của Mẹ, đến câu hỏi xin sứ thần giải thích cho thấy Mẹ hoàn toàn tự do, và đến khi đáp tiếng “xin vâng” thì Mẹ đã thể hiện lễ dâng đời mình bằng cả trách nhiệm cao độ. Ngày nay, ở lứa tuổi mầm chồi, các phụ huynh đã chẳng lo cho con em mình vào những trường tốt, mong có được căn bản làm người và kiến thức cần thiết cho lớp học cao hơn đó sao? Tương tự như thế, Đức Mẹ dâng mình lúc tuổi còn thơ cũng là rèn luyện cho nghĩa vụ là “tôi tá” và cho sứ vụ làm “Mẹ Đấng Cứu Thế” sau này.

Tóm lại, tìm gặp Thiên Chúa, tìm theo thánh ý Người và tìm hun đúc cho sứ mệnh tương lai chính là ý nghĩa của biến cố Đức Mẹ dâng mình. Sống lại tâm tình ấy, ta hãy nỗ lực sống đẹp cuộc đời hiện tại như lễ dâng tạ ơn và cũng như lễ dâng tạ tội. Xin nhờ lời chuyển cầu của Đức Mẹ cho lễ dâng đời ta được thanh tẩy và thánh hóa, mong đẹp lòng Thiên Chúa nhiều hơn. Nếu Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã xếp dáng dấp trinh nữ hiến dâng sau khi nêu lên ba dáng dấp lắng nghe, cầu nguyện và hạ sinh của Đức Maria, thì chỉ muốn khắc họa cho thấy việc dâng mình là nền tảng giúp Đức Mẹ có được động thái tương hợp trong nhịp sống thánh hiến. Xin cho những người sống đời thánh hiến gặp được nơi Đức Mẹ mẫu gương tích cực và xin Đức Mẹ cũng giúp ơn cần thiết để mọi người gặp được bình an với lễ dâng cuộc sống còn lắm khó khăn.

ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống

Holy RosaryMẦU NHIỆM NHẬP THỂ

Lễ Đức Mẹ Mân Côi được thiết lập vào năm 1573 để tạ ơn chiến thắng quân Hồi Giáo ở vịnh Lêpantê; lúc đầu lễ này được mừng trong dòng Đaminh và tại những nhà thờ có thiết lập Hội Mân Côi. Mãi đến năm 1761, để ghi nhớ một cuộc chiến thắng khác (lực lượng Công Giáo đã đẩy lui quân Thổ Nhĩ Kỳ tại Peterwarođiô, gần Vienne), đức Clêmentê XI cho mừng lễ này vào Chủ Nhật đầu tháng 10 trong toàn Hội Thánh. Năm 1913 ngày lễ được ấn định vào ngày 17 tháng 10.[1] Phụng vụ Lễ Đức Mẹ Mân Côi cho chúng ta sống lại biến cố Truyền Tin và nhắc nhở chúng ta về Mầu Nhiệm Nhập Thể, qua đó, Thiên Chúa đã mạc khải cho chúng ta biết nguồn gốc xuất thân của Chúa Giêsu để từ đó chúng ta vui mừng chiêm ngưỡng Thiên Chúa qua Con Một của Ngài; và chúng ta cũng học được nơi Đức Giêsu sự vâng phục trong khiêm nhường. Mẹ Maria cũng là một mẫu gương về sự vâng phục và khiêm nhường để cho chúng ta noi theo trong sự vâng phục thánh ý Chúa Cha.
Trước hết, chúng ta tưởng nhớ Mầu Nhiệm Nhập Thể của Chúa Giêsu. Đó là việc Con Thiên Chúa làm người và ở giữa loài người chúng ta. Văn hóa Việt Nam cho thấy khi tiếp xúc với một người nào đó người ta thường phải tìm hiểu về nguồn gốc đối tác của mình. Chẳng hạn khi cưới vợ hoặc gả chồng thì phải xem gia thế của bạn đời mình thế nào: “Lấy vợ xem tông, lấy chồng xem giống”; khi xin việc trong một công ty hay một cơ sở nào, người tuyển dụng yêu cầu nhân viên phải có sơ yếu lý lịch. Đối với Chúa Giêsu, Người có hai gia phả về nhân tính và thiên tính. Trong khi tác giả Tin Mừng Mátthêu và Luca nói đến gia phải nhân tính của Đức Giêsu là con ông Giuse thuộc dòng dõi Đavít như các ngôn sứ đã loan báo, thì tác giả Tin Mừng Gioan lại nói đến gia phả thiên tính của Người. Lời tựa Tin Mừng Gioan khẳng định Ngôi Lời đã có từ trước muôn đời và “Ngôi Lời là Thiên Chúa” (Ga 1,1). Tuy nhiên, Thiên Chúa đã khước từ địa vị của mình để đến với nhân loại như thánh Phaolô xác quyết trong thư gửi tín hữu Philípphê: “Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hang với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế” (Pl 2,6-7). Và tường thuật gia phả trong Tin Mừng Gioan đi đến khẳng định: “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1,14). Việc nhận biết nguồn gốc Chúa Giêsu sẽ giúp ta có tâm tình tín thác và hy vọng hơn vào Người; đồng thời cũng cho chúng ta một niềm vui lớn lao vì được ở với Người.
Biến cố nhập thể mời gọi vui lên vì Thiên Chúa đã đến với con người, trở nên một con người và ở giữa con người. Đây cũng là lý do mà sứ thần Gabrien đã ngỏ với Đức Maria: “Hãy vui lên” (Lc 1,28). Trong Kinh Thánh, “hãy vui lên” là một lời mời hãy vui mừng vào thời vị cứu tinh đến giải thoát Israel. Ngôn sứ Xôphônia đã cho thấy lý do mà dân Israel “hãy vui mừng” là vì Thiên Chúa đang ngự giữa họ, Ngài là Vị Cứu Tinh: “Reo vui lên, hỡi thiếu nữ Xion, hò vang dậy đi nào, nhà Israel hỡi! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy nức lòng khấn khởi” (Xp 3,14). Ngôn sứ Dacaria cũng lặp lại: “Hỡi thiếu nữ Xion, hãy vui mừng hoan hỷ! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy vui sướng reo hò! Vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi” (Dc 9,9). Và ngôn sứ Giôen cũng mời gọi các tạo vật hãy vui lên vì Đức Chúa đã làm những việc lớn lao như mưa rào đem lại sự tốt tươi cho muôn loài (Ge 2,21-23).
Người Công Giáo chúng ta thường dùng câu: “God be with you” (Chúa ở cùng bạn), viết tắt là godbwye, để nói lên ước nguyện tốt đẹp khi tạm biệt ai đó. Đó cũng là nguồn gốc của từ Godbye (chào tàm biệt). Có Chúa ở với mình thì sẽ không còn sợ hãi, vì Ngài là nguồn bình an; sẽ không còn lo lắng hay buồn sầu, vì Ngài là nguồn hạnh phúc và niềm vui; sẽ không còn thất vọng, vì Ngài là nguồn hy vọng; sẽ không phải chết, vì Ngài là nguồn ơn cứu độ. Khi rước hòm bia về thành của mình, vua Đavít đã hớn hở và nhảy múa. Dù bà Mikhan, con gái vua Saun, khinh bỉ và coi ông như là một đứa vô danh tiểu tốt, vua Đavít vẫn bình thản: “Trước nhan Đức Chúa tôi sẽ vui đùa” (x. 2 Sm 6,12-21). Tin Mừng Luca cho biết khi được Đức Maria đến thăm thì Gioan Tẩy Giả đã nhảy lên trong bụng vì vui sướng, vì được Chúa ở gần (Lc 1,41-44). Như vậy, sự vui mừng gắn với việc Thiên Chúa đến ngự giữa dân của Ngài. Lời chào của sứ thần loan báo một tin vui, đó là thời cứu tinh đã đến, thời mà Thiên Chúa đến viếng thăm dân Ngài.
Mầu Nhiệm Nhập Thể đánh dấu một thời kỳ mới: trời đất giao hòa, Con Thiên Chúa và cũng là Thiên Chúa đã trở đã trở thành xác phàm, trở nên một con người cụ thể để cho con người có thể thấy được, nghe được, đụng chạm được và cảm nghiệm được. Thật vậy, giữa Đấng Tạo Hóa và loài thọ tạo không còn khoảng cách; bức màn ngăn cách giữa Thiên Chúa và loài người đã được xé ra khi Đức Kitô phục sinh. Do đó, tất cả mọi người có lý do để vui mừng; cách riêng Kitô hữu là những người nhận ra có Chúa hiện diện nơi mình, những người biết mình được Thiên Chúa yêu thương, biết mình được Thiên Chúa giải thoát khỏi sự chết qua Đức Kitô. Chúng ta biết chắc được như thế là vì Ngài đã mạc khải cho chúng ta như thánh Gioan khẳng định: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16);thánh Phaolô cũng xác quyết điều này rằng Thiên Chúa yêu chúng ta đến nỗiphó nộp Con của Người cho chúng ta, thì Người không còn tiếc với chúng ta điều gì(x. Rm 8,32). Ý thức được điều này, người Kitô hữu được mời gọi sống chứng nhân cho mầu nhiệm này bằng một cuộc sống vui tươi, quảng đại và vị tha với hết mọi người.
Qua Mầu Nhiệm Nhập Thể, người Kitô hữu cũng được mời gọi sống khiêm nhường và vâng phục theo gương Con Thiên Chúa và Thánh Mẫu Maria.
Đức Giêsu là mẫu mực về đức vâng phục; Người đến thế gian là để thi hành thánh ý Chúa Cha: “Lạy Thiên Chúa, này con đến để thực thi ý Ngài, như trong cuốn sách đã chép về con” (Hr 10,5-7) và “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Ngài” (Ga 4,34). Bằng sự vâng phục Chúa Cha, Đức Giêsu đã toàn tất chương trình cứu độ nhân loại. Với sự khiêm nhường và chấp nhận tự hủy mình ra không, Người trở nên một người phàm, được cưu mang và sinh hạ bởi một trinh nữ.Người đã vâng lời đến tận cùng vì yêu thương mà trong thư gửi tín hữu Philípphê thánh Phaolô đã xác quyết: “Người đã hạ mình xuống, vâng lời cho đến chết, mà chết trên cây thập tự” (Pl 2,8). Là Thiên Chúa nhưng Đức Giêsu cũng mang thân phận con người nên chắc rằng Người cũng lo sợ khi đối diện với những khổ hình, với cái chết; tuy nhiên, vì nhân loại Người đã vâng lời cách tuyệt đối như trong vườn Cây Dầu: “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén này xa con. Tuy vậy, xin đừng cho ý con thể hiện, mà là ý Cha” (Lc 22,42). Đó là sự vâng phục trọn hảo, một hy lễ đẹp lòng Chúa Cha.
Mẹ Maria đã sẵn sàng cộng tác với Thiên Chúa trong công trình cứu độ qua tiếng “xin vâng”. Mặc dù Mẹ đã không hiểu hết những gì thiên sứ loan báo về Mầu Nhiệm Nhập Thể nhưng với niềm tin tuyệt đối vào Thiên Chúa cùng với tâm hồn khiêm nhường, Mẹ đã chấp nhận để cho công trình cứu chuộc nhân loại được hoàn tất. Và một khi nhận lời cộng tác vào chương trình đó, Mẹ Maria cũng chấp nhận những đau khổ cùng với Con của Mẹ, trước hết là sự sinh hạ Chúa Giêsu nơi máng cỏ nghèo hèn, việc đem hài nhi Giêsu trốn sang Ai Cập, rồi đến việc lạc mất con trong đền thánh, nhất là cuộc thương khó và tử nạn. Lời của ông Simêôn cho thấy điều đó: “Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâu thâu tâm hồn bà” (Lc 2,35). Với lòng tin tưởng và phó thác vào Thiên Chúa, Mẹ đã vượt qua được những thử thách và để cho thánh ý Chúa được thực hiện.
Ngày nay Thiên Chúa cũng kêu gọi người tín hữu cộng tác vào chương trình cứu độ qua việc vâng phục thánh ý Thiên Chúa. Việc vâng phục thánh ý Thiên Chúa bao gồm lắng nghe và tuân giữ lời Chúa. Mặc dù chúng ta chưa hiểu hết được những lời đó cũng như các mầu nhiệm, nhưng với lòng đơn sơ và khiêm nhường chúng ta hoàn toàn tin tưởng và phó thác vào Chúa như trẻ thơ hoàn toàn phó thác và tin tưởng nơi người mẹ: “Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa” (Lc 11,28). Việc cộng tác vào công trình cứu độ cũng đòi hỏi người tín hữu hy sinh và chịu vất vả trong cuộc sống. Theo Đức Kitô là bước theo Người trên con đường thập giá; và để đến được với Người chúng ta phải đi qua cửa hẹp, vì nó đưa đến sự sống, còn cửa rộng thì dẫn đến diệt vong. Tuy nhiên, nếu chúng ta quyết tâm lên Giêrusalem với Đức Giêsu, quyết tâm đi qua cửa hẹp với Người thì những hy sinh, những gian khổ đó sẽ được kết hợp với cuộc khổ nạn và phục sinh của Đức Kitô và trở thành hy lễ tốt đẹp dâng lên Chúa Cha và từ đó sinh ơn cứu độ cho chính mình và cho người khác nữa.


Tu sĩ Gioan Baotixita Trần Vui, SVD

Duc Me Nu VuongĐỨC MARIA TRINH NỮ VƯƠNG

Ngày 1 tháng 11 năm 1954, bốn năm sau khi tuyên bố tín điều Đức Maria hồn xác về trời, Đức thánh cha Piô XII đã long trọng đội triều thiên lên tượng Đức trinh Nữ là "sự cứu rỗi của dân Roma". Đây là cử chỉ tượng trưng biểu thị sự công bố về vương quyền phổ quát của Đức Maria.
Đoàn người đông đảo đứng chật quảng đường đền thờ thánh Phêrô, nhân danh cả hoàn cầu, dâng cao niềm hoan hỉ.
Đức Thánh cha cầm những vòng vàng dát đá quí từ khắp thế giới gởi về, để đặt trên đầu tượng Chúa Giêsu và Mẹ Maria. Ngài nói: "Xin Mẹ cai quản trên Giáo hội, trên mọi trí khôn, mọi cõi lòng, mọi cá nhân, mọi gia đình cũng như mọi xã hội và mọi quốc gia, trên mọi cộng đoàn, những người quyền thế. Xin mẹ hãy cai trị trên mọi nẻo đường và mọi quảng trường, trong thành thị và chốn thôn quê, trên nền trời, cũng như trên mặt đất và cả biển khơi."
Ngài còn nói: "Vương quyền của Đức Maria là một thực tại siêu vượt thế trần, đồng thời lại thấm nhập mọi cõi lòng và chạm tới phần cốt yếu sâu thẳm nhất có tính cách siêu nhiên và bất tử nhất của con người."
Đức Maria là Mẹ thánh, tước hiệu này khiến cho Mẹ được đặc ân không bị thương tổn vì tội lỗi. Vô nhiễm nguyên tội, Mẹ cũng không bị thương tổn vì sự chết. Khi kết thúc cuộc đời trần gian cũng như từ những lời đầu tiên buổi truyền tin, mẹ là tuyệt đỉnh của nhân tính bất khả xâm phạm luôn hiệp nhất với Ngôi Lời để hoàn tất công cuộc cứu rỗi thế gian. Không một ý tưởng, hành vi nào của Mẹ lại rời khỏi con Mẹ trong việc chinh phục bản tính nhân loại và việc chinh phục vũ trụ.
Trong kinh lạy Nữ Vương chúng ta xưng tụng "Thân lạy Nữ Vương, lạy Mẹ từ bi, Mẹ là sự sống, sự ngọt ngào và hy vọng của chúng con”. Mẹ Maria được xưng tụng như Esther trong Cựu Ước đã cứu dân ra khỏi hoạ diệt vong, Nữ Vương có mọi quyền hành bên Đức Vua và là Đấng bầu cử linh thiêng nhất bên cạnh Đức Vua. Ngày nay, những lời ca tụng Đức Mẹ hướng về vẻ đẹp tuyệt mỹ của Đức Mẹ và uy quyền của Mẹ bên ngai tòa Chúa Giêsu. Mẹ là hoa quả tuyệt vời của ơn cứu độ và là hoa trái tuyệt mỹ của thập giá Chúa Giêsu "Một người nữ mình mặc áo mặt trời, chân đạp vầng trăng, đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao” (Kh 12,1). Mẹ Maria là người Mẹ đầy uy quyền trước mặt Chúa: "Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo" (Ga 2,5).
Một cầu chuyện vui nhưng cũng nói lên một ý nghĩa nào đó cho việc mừng kính của chúng ta hôm nay:
Một ngày kia, Chúa Giêsu đi dạo trên thiên đàng cũng giống Thiên Chúa đi dạo trong vườn địa đàng thuở xưa. Ngài rất ngạc nhiên khi nhận thấy trong những góc tối, có nhiều khuôn mặt rất khả nghi đang ở đó.
Ngài tự hỏi:
- Làm thế nào mà họ vào đây được.
Ngài đến gặp thánh Phêrô và trách ông là thiếu cảnh giác.
Thánh Phêrô phàn nàn:
- Con làm thế nào được? Con canh cổng rất cẩn thận, nhưng đêm khuya mẹ Ngài mở cửa sổ cho những kẻ tinh quái này vào và con làm sao dám chống cự?
Vâng! Chúng ta hãy đến với Đức Mẹ, chắc chắn Mẹ sẽ không từ chối.
Dougias Hyde là chủ bút tờ báo vô thần ở Anh quốc. Ông nghiên cứu về Giáo hội Công giáo vì mục đích để viết bài phê bình Giáo hội .
Nhưng lạ thay, càng nghiên cứu về Giáo hội, tâm trí ông càng xác tín về chân lý của Giáo hội.
Một ngày nọ, trên đường đến nhiệm sở ở Luân đôn, ông quyết định ghé vào một nhà thờ. Khi đã yên vị ở hàng ghế cuối, ông thắc mắc không hiểu mãnh lực nào đã đưa mình đến đây.
Bỗng có một thiếu nữ bước vào, cô ta đi thẳng đến bức tượng của Đức Maria. Khi cô gái đi ngang qua, Hyde đã nhận ra khuôn mặt lo âu của cô ta. Cô gái quì dưới chân Đức Maria một lúc lâu, đoạn đứng dậy và rời khỏi nhà thờ.
Lúc đi ngang qua, Hyde nhận thấy nét lo âu lúc nãy tan biến, nhường chỗ cho sự an bình vui tươi và thanh thản.
Khi cô gái đi rồi, Hyde liền bắt chước cô gái ấy đến quì trước tượng Đức Mẹ và nghẹn ngào thốt lên:
- Lạy Đức Mẹ nhân từ, xin hãy nhân từ, xin Mẹ hãy nhân từ với con.
Đó là những lời ông đã ghi ra trong cuốn sách tựa đề: "Tôi tin" mà ông đã viết sau này
Lạy Chúa, Chúa đã đặt Thánh Mẫu của Đức Kitô Con Chúa làm Thánh Mẫu và Nữ Vương chúng con. Xin nhận lời Đức Nữ Vương chuyển cầu mà cho chúng con đạt tới phúc vinh quang Chúa dành sẵn trên trời cho con cái Chúa. (Lời nguyện nhập lễ, lễ Đức Maria Nữ Vương)

 

 Lm Giuse Đinh Tất Quý

AssumptionĐức Mẹ Hồn Xác Lên Trời

Hôm nay chúng ta vui mừng cảm tạ và ngợi khen Chúa đã cho Mẹ Maria, Mẹ chúng ta được vinh quang hồn xác lên trời. Mẹ là người đầu tiên được nên giống Chúa Giêsu, Con Mẹ. Đó là một hồng ân mà chỉ một mình Mẹ được vì Mẹ là Mẹ của Chúa Giêsu. Thiên Chúa đã cho Mẹ vinh quang đó là một điều rất thích hợp vì Mẹ đã hoàn toàn thuộc về Chúa, Mẹ đã hoàn thành một cách hoàn hảo trách nhiệm Chúa đã giao phó.
Chúa Giêsu phục sinh lên trời vì Ngài là Thiên Chúa. Nhưng Đức Mẹ là một tạo vật như chúng ta, một con người trần thế. Mẹ được hồn xác lên trời là một hồng ân vô thường của Chúa, là một dấu hiệu tình yêu vô biên của Chúa đối với Mẹ, vì Mẹ đã được chọn làm mẹ của Ngôi Lời Thiên Chúa.
Mẹ là vinh quang của chúng ta là đoàn con nhỏ bé của Mẹ đang theo Mẹ trên con đường về quê trời. Mẹ lên trời hồn xác là lời hứa vinh quang mà chúng ta cũng sẽ được hưởng, là niềm hy vọng của mọi người đang khổ cực tiến về thành đô thiên quốc. Chúng ta sẽ được sống lại. Đó là niềm tin vững chắc của chúng ta vì chính Chúa Giêsu đã hứa: “ Thầy ở đâu anh em sẽ ở đó với Thầy”. Chúng ta không phải là những trẻ mồ côi lạc lõng giữa cuộc đời, không hy vọng, không niềm vui. Trái lại, chúng ta là con Thiên Chúa. Hạnh phúc của chúng ta là chính Thiên Chúa. Thân xác mọn hèn của chúng ta sẽ mặc lấy sự bất hoại như thánh Phaolô đã nói. Hôm nay, chúng ta đang đương đầu với bao nhiêu gian nan của cuộc sống, nhưng ngày mai, khi chúng ta từ bỏ trần gian nầy, chúng ta sẽ như các thiên thần.
Tín điều Đức Mẹ hồn xác lên trời do Đức Thánh Cha Piô XII tuyên tín đã mang lại cho chúng ta một niềm phấn khởi mới, một niềm hy vọng mãnh liệt vào sự phục sinh vinh hiển của chúng ta trong Chúa. Hôm nay, chúng ta là Đền Thờ của Thiên Chúa trong thân xác yếu hèn của chúng ta, ngày mai chúng ta sẽ được vinh quang với Chúa trọn vẹn như Mẹ.
Phụng vụ hôm nay nhắc lại việc Mẹ viếng thăm bà Êlisabet cho chúng ta thấy khuôn mặt khả ái của Mẹ Maria và lòng thương vô biên của Chúa đối với Mẹ. Mẹ mang lấy sự hiện diện thánh thiện của Con Thiên Chúa trong Mẹ như Hòm Bia xưa đã chứa đựng vinh quang của Thiên Chúa. Mẹ mang lấy Thiên Chúa cho Gioan Tẩy giả khi còn trong lòng Mẹ. Hôm nay, Mẹ cũng mang Chúa đến với chúng ta, cho chúng ta nhìn thấy hồng ân của Chúa ngay trong cuộc sống gian nan của chúng ta.
Mẹ là máng thông ơn Thiên Chúa cho trần gian khổ lụy của chúng ta. Gioan Tẩy Giả, trong lòng bà Êlisabet đã nhảy mừng như vua Đavít xưa nhảy múa trước Hòm Bia và bà Êlisabet đã được đầy Thánh Thần đã kêu lên sung sướng: “ Bởi đâu tôi được Mẹ Thiên Chúa đến viếng thăm!” Vì Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, Mẹ phải được vinh dự hồn xác lên trời như Con của Mẹ.
Bà Êlisabet đã thốt lên những lời do Thánh Thần Chúa soi sáng, đã chúc tụng Mẹ Maria: “ Bà có phúc hơn mọi người nữ và con lòng Bà cũng được chúc phúc”. Bấy giờ Maria, Đấng tràn đầy ThánhThần cầt tiếng ca tụng Chúa và bài ca ấy, hôm nay Giáo Hội vẫn lặp đi lặp lại mỗi ngày trong lời kinh nguyện buổi chiều của mình, để cùng với Mẹ tạ ơn vì lòng thương vô bờ của Chúa. Bài ca nầy diễn tả tình thương của Thiên Chúa đối với những tâm hồn nghèo khó và Đấng Toàn Năng đã tỏ mình ra trong sự khiêm hạ.
Niềm vui của Mẹ bùng lên, có cái gì dâng trào từ thâm cung của tâm hồn. Mẹ vui mừng ngợi khen Thiên Chúa và nhảy mừng chứ không chỉ hớn hở vui mừng như bản dịch tiếng Việt. Niềm vui đó đến từ Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ tôi, chứ không do tôi. Tất cả bắt nguồn từ Thiên Chúa. Tất cả tâm hồn, trí khôn, tiếng nói và con người của Mẹ ngợi khen Chúa. Mẹ không xem cái gì là của mình, mọi sự là của Chúa. Niềm vui của Mẹ bắt nguồn từ Thiên Chúa. Giáo Hội hôm nay vui mừng ngợi khen Mẹ vì Mẹ được tràn đầy ơn phúc trong Chúa. Ngợi khen Mẹ tức là ngợi khen Thiên Chúa, ngợi khen lòng thương của Chúa đã đoái nhìn đến phận hèn tớ nữ, đã đến trong trần gian, ở giữa loài người để cứu vớt chúng ta là kẻ có tội. Mẹ đã nhớ lại lời truyền tin khi thiên thần nói: “ Bà sẽ sinh hạ một con trai và là Con Đấng Tối Cao”.
Mẹ Maria đã thấy được khoản cách vô biên giữa Thiên Chúa và con người. Mẹ thấy được diễm phúc của Mẹ là nữ tỳ của Thiên Chúa. Mẹ đã nói lên tiếng xin vâng của Mẹ với tâm tình biết ơn và khiêm hạ. Mẹ nhìn nhận quyền năng của Chúa nơi Mẹ: “Chúa đã làm cho tôi những điều trọng đại và Danh Người là thánh”. Tất cả nơi Mẹ đều qui hướng về Chúa. Mẹ không là gì cả, Mẹ chỉ là Nữ tỳ nhỏ bé thôi. Nhưng chính khi Mẹ nhìn nhận sự thấp hèn của mình thì chính Thiên Chúa đã nâng Mẹ lên địa vị cao sang nhất là cho Mẹ làm Mẹ Con Một Thiên Chúa. Đó là những việc vĩ đại mà Mẹ đã nhắc đến. Đó là điều vĩ đại mà trong trời đất chỉ có một.
Hãy nhìn về Mẹ để nhìn thấy Mẹ đáng yêu như thế nào. Mẹ là người Nữ, mình khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng và đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao. Mẹ là người Nữ chiến thắng con mãng xà hung tợn. Mẹ chính là người nữ đạp đầu con rắn đã được tiên báo trong sách Sáng Thế. Mẹ sáng chói như ánh mặt trời vì Mẹ đã chiến thắng Satan bằng sự khiêm nhường và phó thác của Mẹ. Mẹ đã đền lại sự bất tuân của Evà bằng sự vâng phục triệt để theo thánh ý Chúa.
Mẹ Maria là niềm hy vọng của chúng ta vì Mẹ được vinh dự hồn xác lên trời, nhưng Mẹ cũng là hình ảnh của Giáo Hội lữ hành trên trần gian, đương đầu với mọi trở lực, bị Satan bách hại liên tục, nhưng Giáo Hội là của Chúa, là Thân Thể của Chúa Giêsu. Ngài không để Giáo Hội thất vọng trong sự yếu hèn của mình, vì Giáo Hội vẫn chứa đựng trong mình kho tàng vô giá là Chúa Giêsu. Như Mẹ, Giáo Hội luôn mang Chúa đến cho mọi người như Mẹ đã mang Chúa đến cho Gioan Tẩy Giả và bà Êlisabet. Giáo Hội vẫn tin vào Chúa và là của Chúa. Mặc dù Giáo Hội vẫn mang trên mình, những thương tích của Chúa mình, như thánh Phaolô đã nói nhưng Giáo Hội vẫn tin rằng, những đau đớn khổ cực ở đời nầy không thể nào so sánh với vinh quang mà Chúa dành cho những ai trung thành với Ngài.
Chúng ta vững tin như Mẹ Maria, như Giáo Hội. Chúng ta tin rằng xác của chúng ta ngày sau sẽ sống lại và chúng ta sẽ được vinh quang với Chúa như Mẹ. Mẹ chính là quả đầu mùa của nhân loại được vinh quang trong Chúa. Mẹ là niềm hy vọng lớn lao của chúng ta. Nơi Mẹ chúng ta nhìn thấy vinh quang của Chúa nơi tạo vật của Ngài, chúng ta cũng nhìn thấy tình thương của Ngài đối với chúng ta. Chúa đã đến với chúng ta qua trung gian của Mẹ và Ngài vẫn còn đến mãi cho đến khi nào mọi sự được hoàn tất trong Chúa.
Và hôm nay Chúa vẫn đến với chúng ta như khi xưa Ngài đã đến với Mẹ Maria, dưới một hình thức khác. Chúng ta được mời gọi vào bàn tiệc của Chúa và được ăn lấy Chúa. Đây phải chăng là một cách nhập thể lạ lùng nhưng hữu hiệu ? Chúa không chỉ đến bên cạnh chúng ta Ngài đến tận trong xương tủy chúng ta nhờ một tấm bánh. Nhưng Ngài là Bánh Hằng Sống, Bánh ban sự sống đời đời vì thế, ăn lấy Ngài là ăn lấy sự sống vĩnh cửu. Bánh Sự Sống sẽ cho chúng ta được sống lại vinh quang như Mẹ Maria. Xin Chúa giúp chúng ta tin vững vào tình thương của Chúa để sống mãi trong tình thương của Ngài và giúp anh em chúng ta đạt tới hạnh phúc Chúa hứa ban. Xin Mẹ nuôi dưỡng Chúa Giêsu trong con người chúng ta,giúp chúng ta trung thành yêu mến Chúa như Mẹ.


Lm Trầm Phúc

plumeria dewCó người nhờ bạn giúp đỡ, họ mong bạn giúp hết 10 phần, nhưng bạn chỉ giúp 7 phần, đối phương nghĩ bạn không có thành ý, đã không cám ơn bạn, còn nghĩ bạn nợ anh ta 3 phần. Có rất nhiều người, làm ân báo oán, việc như vậy ở đời rất thường thấy.

01

Trên đời này, thứ khó đo lường nhất chính là lòng người.

Có lẽ có rất nhiều người ở đây đã từng là người bị hại và bị chơi khăm bởi chính những người quen biết, bạn bè thân thiết hoặc là những người mình từng giúp đỡ, đúng không?

Trước tiên, tôi xin được kể một câu chuyện ngắn, có thể gọi tên là "Con lạc đà và thước đo của sự lương thiện."

"Vào một đêm mùa đông lạnh lẽo, gió lạnh thổi tới, có một người Ả Rập đang chuẩn bị nghỉ ngơi trong một chiếc lều ấm áp.

Đột nhiên, có một con lạc đà đứng bên ngoài kéo rèm cửa lều của người Ả Rập và nói một cách đáng thương rằng bên ngoài trời quá lạnh, hy vọng người chủ lều có thể thương tình cho phép nó được đưa đầu vào để sưởi ấm một chút.

Người Ả Rập tốt bụng đã đồng ý lời thỉnh cầu của con lạc đà.

Không lâu sau, con lạc đà lại xin được đưa cổ, chân trước và nửa thân vào lều. Người Ả Rập cũng không đành nhẫn tâm từ chối, nên cũng đã đồng ý.

Nhưng lợi dụng lòng tốt của người Ả Rập, con lạc đà kia ngày càng trở nên quá đáng. Cuối cùng, nó chui cả người vào trong lều, và ép người Ả Rập ra khỏi lều, còn nó thì nằm bên trong tận hưởng căn lều ấm áp."

Người Ả Rập là người tốt, lương thiện, bởi vì anh ta giúp đỡ con lạc đà mà không cần điều kiện gì khác, cũng không nghĩ xem việc đó có hại đến lợi ích của mình hay không. Anh ta chỉ hết lòng giúp người theo bản năng, nhưng cuối cùng ngay cả lời cám ơn còn không nhận được, lại mang tổn thương về người.

Tâm hại người không nên có, nhưng tâm phòng người nhất định phải có. Có đôi lúc, sự thiện lương và đơn thuần của bạn lại không phải việc tốt, bởi vì sẽ có một số người lợi dụng điều đó để chiếm lợi từ bạn, làm bạn tổn thương xong, họ còn mắng bạn ngốc.

Trong "Tình yêu ma cà rồng" có một câu nói thế này: "Bất kỳ mối quan hệ nào cũng vậy, có thể nuôi dưỡng bạn, cũng có thể bòn rút từ bạn."

Do đó, lòng tốt của bạn cần phải có chừng mực và sự sắc bén khi nhìn người. Giúp đỡ người khác là tốt, nhưng đừng để bản thân bị lợi dụng, bị tổn thương.

Khi ra khỏi nhà, mọi việc đều phải khoan dung, nhẫn nhịn, chịu chút thiệt thòi thì được coi là "Phí học trường đời" rẻ nhất rồi.

Trong trường hợp xảy ra tranh chấp, lùi một bước là bầu trời.

Tuyệt đối đừng nóng giận, đánh nhau, chỉ dễ gây tai vạ và kéo thiệt thòi vào người.

02

Bạn tôi, điển hình của sinh viên 3 tốt: Nhiệt tình, lương thiện, hiền. Khi còn ở ký túc xá, cô ấy không chỉ làm hết việc dọn dẹp trong phòng mỗi ngày, còn giúp các bạn cùng phòng làm rất nhiều việc như lấy bưu kiện, mua cơm hộp mỗi ngày, làm bài hộ,...

Lâu dần, bạn cùng phòng cô ấy cho rằng những thứ cô ấy đã làm là việc hiển nhiên. Quét dọn, lau phòng, đổ rác lại trở thành công việc riêng của cô ấy, không có ai có ý thức phụ giúp. Thậm chí đồ đạc cá nhân còn bị "mượn" mà không xin phép.

Tính cách khiêm nhường và lương thiện quá mức của cô ấy trong mắt người khác lại biến thành một kẻ ngốc không biết đấu tranh.

Mãi đến một ngày nọ, mấy bạn cùng phòng cô ấy uống rượu la hét ầm ĩ trong phòng, còn đổ rượu lung tung lên giường cô ấy, khi quản lý ký túc xá đến kiểm tra lại đổ thừa do cô ấy xúi giục, hại cô ấy bị người quản lý mắng cho một trận, lúc đó cô ấy mới tỉnh ngộ.

Cô ấy quyết định chuyển ra ngoài sống phòng trọ một mình.

Đối với những người biết điều biết chuyện, bạn chỉ cần giúp họ một lần, họ đã ghi ơn tạc dạ trong lòng, và rất ngại làm phiền bạn thêm lần hai.

Chúng ta đều biết lương thiện là một đức tính tốt, ngay từ nhỏ khi học môn Đạo đức chúng ta đã được dạy phải biết giúp đỡ, đối xử tốt bụng, khoan dung với người khác. Nhưng có đôi khi, sự tử tế và nhượng bộ của bạn không đổi lấy sự biết ơn, mà trái lại chỉ là sự đòi hỏi vô độ từ phía đối phương.

Xã hội ngày nay, người tử tế, lương thiện thường rất dễ bị bắt nạt.

Lương thiện thật sự đáng quý, nhưng nếu sự lương thiện của bạn bỏ ra chỉ đổi lấy sự quá đáng từ đối phương, nó lại gọi là yếu đuối rồi.

03

Olive Cooke, nhà từ thiện nổi tiếng ở Anh người đã tự tử bằng cách nhảy cầu, hưởng thọ 92 tuổi.

Từ năm 16 tuổi đến lúc mất đi, bà ấy đã làm việc thiện trong 77 năm trời.

Trong mười mấy năm liền, bà ấy đã quyên góp tiền cho hơn 20 tổ chức từ thiện và thậm chí còn lấy tất cả lương hưu của mình để làm từ thiện.

Một bà lão với tình yêu thương người vĩ đại như thế, vốn nên từ từ nhắm mắt trong những lời chúc phúc và biết ơn của tất cả mọi người, mà không nên rời khỏi thế giới này theo cách thức đau đớn như thế.

Hóa ra tiền tiết kiệm của Olive Cooke đã gần hết, và bà không thể bỏ ra nhiều tiền như lúc trước nữa.

Nhưng hàng tháng, bà vẫn nhận được 200 email và vô số cuộc gọi, không phải để cám ơn, mà là để yêu cầu bà quyên góp, còn có người trách bà cho họ quá ít.

Những lá thư lạnh lẽo như băng tuyết và những yêu cầu khó nghe kia khiến bà thấy nghẹt thở.

Sau khi bà gửi con trai 250 Bảng Anh thì bà mất tích, bởi vì đến phút cuối bà không còn dám tin ai nữa.

Khi một người đang đứng trên bờ vực tuyệt vọng, bạn giúp anh ta, anh ta sẽ coi bạn là ân nhân. Nhưng nếu bạn luôn giúp anh ta không giới hạn từ ngày này qua ngày khác, sẽ rất dễ nuôi dưỡng ra một con "ma cà rồng", chỉ biết "hút máu" từ người khác, khiến anh ta sinh ra cảm giác rằng bạn vốn dĩ nên giúp anh ta, đó là việc hiển nhiên.

Cho đến khi bạn không còn nhiều máu cho anh ta hút, bạn không còn điều kiện để giúp anh ta nữa, và bạn ngừng giúp.

Anh ta sẽ không nghĩ rằng bạn không thể giúp được, mà chỉ nghĩ bạn đang lấy đi thứ vốn thuộc về anh ta, và xem bạn như kẻ thù.

04

Lương thiện là chuyện tốt. Nhưng chúng ta cần có nguyên tắc riêng: cứu chuyện cấp bách không cứu cái nghèo, giúp người gặp khó không giúp người lười. Học cách đặt lòng tốt đúng chỗ, để sự lương thiện của bạn cho người xứng đáng có được.

Nếu là bạn, khi gặp những trường hợp này, bạn sẽ làm gì?

"Đồ bạn coi bộ dễ xài hơn, cho tôi mượn nhé, tôi khỏi mắc công mua."

"Học chuyên anh mà, giúp tôi biên dịch 10 trang này từ Việt sang Anh nhé, nhanh mà."

"Cậu đang thiết kế, sẵn tiện giúp tôi làm cái poster luôn đi, mai ráng xong sớm nhé, mai tôi phải dùng rồi đấy."

"Mày có nhiều tiền thế, cho tao mượn ít có sao đâu?"

"Đều là bạn bè với nhau, cậu giúp cô ta không giúp tôi vậy coi được à?"

...

Như đã nói, bạn giúp họ là vì tình cảm, không phải vì nghĩa vụ.

Đừng để người khác nhầm lẫn và quen với việc coi lòng tốt của bạn là nghĩa vụ bạn phải làm, là chuyện đương nhiên mà họ phải được nhận.

Đừng sống như một kẻ xấu xa hung dữ, nhưng cũng đừng bao giờ làm một ông già tốt bụng luôn mỉm cười trong thầm lặng, học cách thêm gai vào người để tự vệ cũng là chuyện tốt.

Lợi ích của bạn, bạn phải giữ, không được cả nể. Khi gặp bất công, phải đấu tranh, nói: "Xin lỗi, tôi không muốn làm!"

Trong nhà Phật thường dạy không nên làm tổn thương người. Nhưng chính bạn cũng nên nhớ, đừng để người khác được dịp lợi dụng làm tổn thương bạn.


Quảng cáo