Our Lady of LourdesĐức Mẹ Lộ Đức và Thánh Nữ Bernadette

Lộ Đức là trung tâm hành hương quốc tế. Cách đây mấy năm, tôi có đi hành hương Đức Mẹ Lộ Đức. Từ Rôma qua hướng Tây Ban Nha, vượt đỉnh Pyrênê đến miền Nam nước Pháp. Lộ Đức nằm ở một vị trí khá hẻo lánh, thuộc một tỉnh nhỏ. Nơi đây, từng giờ từng phút, khách thập phương tấp nập đổ về để dâng lễ, cầu nguyện và xin ơn với Đức Mẹ.

Khi bước vào Vương Cung Thánh Đường Vô Nhiễm Nguyên Tội, tôi thấy bên phải, có phiến đá cẩm thạch ghi lời tuyên bố long trọng của Đức Giám Mục Laurence về những lần hiện ra của Đức Mẹ: “Chúng tôi tuyên bố rằng Đức Vô Nhiễm Nguyên Tội Maria, Mẹ Thiên Chúa, đã thực sự hiện ra với Bernadette Soubirous, ngày 11 tháng 02 năm 1858 và những ngày kế tiếp, tất cả là 18 lần, trong hang động Massabielle, gần thành Lộ Đức; rằng sự hiện ra này mang tất cả những tính cách của sự thật, và các giáo hữu đều đã tin là chắc chắn. Chúng tôi xin dâng cách khiêm nhượng sự phán đoán của chúng tôi cho Sự Phán Đóan của Đức Giáo Hoàng, Vị được giao trọng trách guồng lái Giáo Hội hoàn vũ “.

Đức Mẹ đã hiện ra 18 lần tại Hang đá Lộ Đức, từ ngày 11 tháng 02 đến ngày 16 tháng 07 năm 1858.

Ngày 28 tháng 07 năm 1858, Đức Giám Mục địa phận Lộ Đức đã thiết lập Ủy Ban Điều Tra về những lần Đức Trinh Nữ Maria hiện ra tại hang đá Massabielle. Công việc điều tra kéo dài trong 4 năm.

Trang web: lourdes-france.com, cho biết công việc nghiên cứu điều tra tỉ mỉ và sự phân định sáng suốt, trong lời kinh nguyện. Sau 4 năm, ngày 18 tháng 01 năm 1862, Đức Giám Mục, nhân danh Giáo Hội, nhìn nhận những lần hiện ra là đích thực. Giáo Hội nhìn nhận chính thức những lần Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức, dựa trên chứng từ xác quyết của cô Bernadette Soubirous.

Đức Thánh Cha Lêô XIII chấp thuận mừng lễ Đức Mẹ Lộ Đức và Đức Thánh Cha Piô X cho phép toàn thể Giáo hội mừng lễ này vào ngày 11.2 hàng năm.

Chúng tôi dâng lễ tại Hang đá nơi Đức Mẹ hiện ra. Cạnh bàn thờ dâng lễ là mạch nước chảy không ngừng từ trong Hang Đá. Ngày nay, mạch suối này được dẫn xuôi theo Nhà thờ tới chân tháp để khách hành hương tới lấy nước và uống nước suối này. Tôi uống liền mấy ly và đem về 5 lít nước để tặng cho bà con giáo dân.

Hành hương về Lộ Đức, tôi được hiểu biết thêm nhiều về lịch sử và sứ điệp Đức Mẹ nhắn gửi qua thánh nữ Bernadette.

Bernadette là một cô bé 14 tuổi, không biết đọc, không biết viết, con một gia đình nghèo ở Lộ Đức. Gia đình cô tạm trú tại một nơi trước kia dùng làm nhà giam.Nơi tồi tàn này, cả gia đình gồm ông bà thân sinh và bốn chị em Bernadette làm nơi nương thân. Đức Mẹ muốn chọn một cô bé nơi nghèo hèn để làm sứ giả của Mẹ.

Theo lời kể của Bernadette. Hôm đó là ngày thứ năm, 11.02.1858, được nghỉ học, Bernadette xin phép mẹ đi nhặt củi. Bình thường theo dọc bờ sông Gave, có rất nhiều cành cây khô. Nhưng suốt buổi sáng đó, dường như chị em của Bernadette không nhặt được bao nhiêu. Bernadette mới tiến đến một hang động gần đó mà dân làng quen gọi là Massabielle. Cô đang loay hoay nhặt củi, từ trong hang đá, một thiếu nữ diễm lệ xuất hiện và đứng trên một tảng đá, ánh sáng bao trùm cả hang Massabielle. Theo lời mô tả của cô, thì người thiếu nữ chỉ trạc độ 16, 17 tuổi. Bernadette tưởng mình như đang mơ. Cô bước thêm bước nữa. Người thiếu nữ diễm lệ chỉ mỉm cười. Trong cơn xúc động, Bernadette lấy tràng chuỗi từ trong túi áo ra và bắt đầu đọc kinh Kính Mừng. Khi Bernadette vừa lần xong chuỗi mân côi, người thiếu nữ làm hiệu cho cô tiến lại gần hơn. Bernadette say sưa ngắm nhìn và tiếp tục đọc kinh cho đến khi ánh sáng bao trùm người thiếu nữ nhạt dần và tắt hẳn.

Cô về nhà kể lại biến cố ấy, nhưng chẳng ai tin cô. Chính cha mẹ cô cũng không muốn cho cô trở lại hang đá nữa. Nhưng như có một sức hấp dẫn lạ kỳ nào đó khiến cô vẫn trở lại hang đá ấy.

Sau lần này, cô còn được trông thấy “người thiếu nữ diễm lệ” hiện ra 17 lần nữa.

Khi hiện ra lần thứ ba, ngày 18.02.1958, người thiếu nữ ấy mới bắt đầu nói với cô: “Con có vui lòng đến đây liên tiếp 15 ngày nữa không? Ta không hứa sẽ làm cho con được sung sướng ở đời này, nhưng là ở đời sau.”.

Trong 15 ngày tiếp đó, người thiếu nữ đã nhắn nhủ và truyền cho Bernadette nhiều điều. Cô kể : “Bà dặn tôi nhiều lần rằng: Hãy sám hối, hãy nói với các linh mục xây một nhà nguyện ở đây, hãy đến uống và rửa ở suối này, phải cầu nguyện cho những người tội lỗi được ơn hối cải. Trong vòng 15 ngày ấy, Bà còn nói với tôi 3 điều và dặn tôi không được nói với ai. Tôi vẫn trung thành giữ kín. Sau ngày thứ 15, tôi hỏi Bà 3 lần liên tiếp: Bà là ai? Nhưng Bà chỉ mỉm cười. Tôi đánh bạo hỏi thêm lần thứ tư. Lúc ấy, Bà mới buông tay xuống, ngước mắt nhìn lên trời rồi vừa nói vừa chắp tay trước ngực: ‘QUE SOY ERA IMMACULADA COUNCEPTIOU’”. Đó là thổ âm của vùng Lộ Đức lúc bấy giờ, được dịch ra tiếng pháp là: ‘Je suis l’Immaculée Conception’, và dịch sang tiếng Việt Nam là: ‘Ta là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội’.

Các bậc khôn ngoan chống đối, dân chúng xúc động, cảnh sát thẩm vấn Bernadette nhiều lần. Cô bình thản trả lời và không hề nao núng trước những lời đe dọa. May mắn là cô không bị vướng mắc vào những tiểu xảo của người thẩm vấn. Các nữ tu dạy học cũng tỏ ra bất bình, còn Bernadette vẫn luôn giữ được thái đô khiêm tốn lịch sự.

Ngày 25.2.1858, một đoàn người cảm kích theo cô sau khi cầu nguyện, Bernadette đứng dậy, ngập ngừng tiến tới gần hang đá rồi quì xuống. Theo lệnh của “người thiếu nữ diễm lệ”, cô cúi xuống lấy tay cào đất. Một dòng nước vọt lên. Dòng nước đó đến nay cứ chảy mãi, cứ 24 tiếng đồng hồ là có khoảng 120.000 lít nước chảy ra.

Ông biện lý cho gọi Bernadette tới. Ông chế giễu, tranh luận và đe dọa cô nữa. Cuối cùng ông kết luận :

– Cô hứa với tôi là sẽ không tới hang đá nữa chứ ?

Nhưng Bernadette bình tĩnh trả lời cách rõ ràng.

– Thưa ông, cháu không hứa như vậy.

Cha sở tỏ ra nghi ngại, ngài cấm các linh mục không được tới hang. Khi Bernadette tới gặp ngài và thuật lại ““người thiếu nữ diễm lệ” nói : Ta muốn mọi người tổ chức rước kiệu tại đây”.

Cha sở liền quở trách và gằn từng tiếng :

– Con hãy nói với bà ấy rằng, đối với cha sở Lộ Đức, phải nói cho rõ rệt. Bà muốn những buổi rước kiệu và một nhà nguyện à ? Trước hết Bà phải cho biết Bà tên là gì và làm một phép lạ đã chứ.

Dòng nước vẫn chảy thành suối. Dân chúng vẫn lũ lượt kéo nhau tới, những kẻ hoài nghi phải chùn bước.

Đã có những phép lạ nhãn tiền :

– Một người thợ đẽo đá mù lòa đã thấy được ánh sáng.

– Một phụ nữ bại tay sáu năm nay bình phục.

– Một em bé hai tuổi bệnh hoạn đang hấp hối trước những cặp mắt thất vọng của cha mẹ. Họ nghèo lắm, bà hàng xóm đã dọn sẵn cho một một cái quách. Người cha thở dài : – Nó chết rồi.

Người mẹ chỗi dậy. Không nói một lời nào, bà ôm đứa trẻ chạy thẳng ra hang đá, dìm nó vào trong dòng nước giá lạnh. Dân chúng cho rằng bà khổ quá hóa điên. Sau khi tắm cho bé khoảng 15 phút, bà ẵm con về nhà. Sáng hôm sau, bé hết bệnh. Ba bác sĩ đã chứng thực chuyện lạ này.

Báo chí công kích dữ dội và cho rằng đó chỉ là ảo tưởng. Bernadette vẫn giản dị vui tươi tự nhiên. Hàng ngày cô trở lại hang đá.

Ngày 25.3, cô quì cầu nguyện và khuôn mặt bỗng rỡ nên rạng rỡ. Rồi cô quay lại nói với vài người có mặt : – Bà nói: Ta là Đấng Vô Nhiễm nguyên tội.

Vài phút sau, lời Đức Trinh Nữ được truyền từ miệng người này sang người khác. Đám đông cất cao lời cầu khẩn:

– Lạy Đức Mẹ Maria chẳng hề mắc tội tổ tông, xin cầu cho chúng con là kẻ chạy đến cùng Đức Mẹ.

Ngày 8.12.1854, Ðức Giáo Hoàng Piô IX tuyên bố tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội trong Hiến Chế Ineffabilis Deus. Hơn ba năm sau, trong lần hiện ra ngày 25.3. 1858, Đức Mẹ tự xưng là: “Ðấng Vô Nhiễm Nguyên Tội.“.

Vào năm 1866, Bernadette được gửi vào dòng Nữ Tu Ðức Bà ở Nevers. Ở đây, sơ trở nên một phần tử của cộng đoàn, và bị sơ giám đốc đệ tử đối xử rất tệ hại. Sự bất nhẫn ấy chỉ chấm dứt khi họ khám phá rằng sơ Bernadette đang chịu đau khổ vì một căn bệnh bất trị. Sơ từ trần ở Nevers vào ngày 15.4.1879, khi mới 35 tuổi. Sơ Bernadette được phong chân phước năm 1925, và được Ðức Giáo Hoàng Piô XI phong thánh năm 1933. Lễ kính thánh nữ vào ngày 16.4 hàng năm.

Lộ Ðức đã trở nên trung tâm hành hương và chữa lành, nhất là đức tin. Ðối với những người có đức tin thì không có gì ngạc nhiên. Ðó là sứ vụ chữa lành của Chúa Giêsu được tiếp tục thể hiện qua sự can thiệp của mẹ Người.

Nhiều người đến Lộ Ðức và trở về với một đức tin được đổi mới, sẵn sàng phục vụ Thiên Chúa trong các nhu cầu của tha nhân. Tuy nhiên vẫn còn nhiều người nghi ngờ việc hiện ra ở Lộ Ðức. Ðể nói với họ, có lẽ tốt hơn là dùng những lời mở đầu của cuốn phim “Song of Bernadette”: “Với những ai tin vào Chúa thì không cần giải thích. Với những người không tin, thì chẳng sự giải thích nào đầy đủ.“.

Sứ điệp Đức Mẹ trao cho Bernadette có thể tóm lược trong ba lời mời gọi sau đây:

– Mời gọi cầu nguyện: Khi hiện ra lần thứ nhất, Mẹ đã dạy Bernadette làm dấu Thánh Giá và lần hạt cách sốt sắng. Mỗi lần hiện ra Mẹ đều làm như vậy. Mẹ còn dạy riêng cho Bernadette một kinh nguyện, rồi cuối cùng mới trao cho cô sứ điệp cầu nguyện: Con hãy cầu nguyện, hãy cầu nguyện cho kẻ có tội được ơn trở lại.

– Mời gọi sám hối: Đức Trinh Nữ lập lại với Bernadette ba lần: ‘Hãy sám hối, sám hối, sám hối’. Ngày 25-2-1858, Mẹ nói với Bernadette: ‘Con hãy đến uống và rửa ở suối này’. Mẹ chỉ cho cô tìm ra một giòng suối. Suối nước này ban đầu rất đục, sau đó bùn lắng xuống rồi trở thành suối nước trong lành. Đó là dấu hiệu cho sự sám hối. Nó tượng trưng cho sự lắng đọng trong tâm hồn tất cả những gì là vẩn đục hầu nên thanh sạch hơn.

– Mời gọi rước kiệu và xây nhà nguyện:“Con hãy nói với các linh mục xây nhà nguyện ở đây. Mẹ muốn người ta đến đây rước kiệu”. Nhà nguyện là nơi dân Chúa tụ họp để nghe lời Chúa và cử hành nhiệm tích Thánh Thể. Để đáp lại nguyện vọng của Đức Maria mà ba đại giáo đường và 2 Nhà thờ khá lớn lần lượt được xây dựng ở đây.“Người ta sẽ xây nhà nguyện cho con, và xây rất lớn” , cha sở Lộ Đức Peyramale đã nói với Bernadette như thế khi cô đến trình bày về lời yêu cầu của Đức Mẹ, hẳn cha đã không ngờ rằng mình nói rất đúng.Những Thánh đường này hằng ngày quy tụ từng đoàn người hành hương đến viếng thăm, chầu Thánh Thể và rước kiệu. Chính tại nơi đây, Thánh lễ cũng như các buổi rước kiệu Thánh Thể luôn được cử hành rất long trọng. Lộ Đức xứng với danh hiệu “Thành phố của nhiệm tích Thánh Thể”.

Hai buổi chiều, tôi dành thời giờ ngồi bên dòng sông Pau, đối diện với Hang Đá, ngắm nhìn Vương Cung Thánh Đường uy nghi xây vách đá, nơi Đức Mẹ hiện ra, nhìn dòng người không ngớt cầu nguyện dưới chân Mẹ. Tôi hiểu tại sao Giáo hội, trong dọc dài thời gian hơn hai ngàn năm qua vẫn luôn vững bền và phát triển cho dù trải biết bao thăng trầm dâu bể của lịch sử nhân loại. Nhờ Mẹ Maria luôn chở che Giáo hội như Mẹ đã bao bọc nâng đỡ các Tông Đồ sau Lễ Ngũ Tuần. Mẹ là dòng sông tưới mát cho nhân loại đang trên hành trình tìm về nguồn hạnh phúc bên Chúa.

Lộ Đức là địa chỉ của tình thương, là điểm hẹn của bình an nội tâm. Tạ ơn Đức Mẹ và xin Mẹ thương ban ơn cho các bệnh nhân.

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Mary MotherofGodSuy niệm Lễ Đức Maria Mẹ Thiên Chúa

Là Mẹ Thiên Chúa nhưng Mẹ cũng là một người phụ nữ bình dị

Khi mừng lễ Đức Maria - Mẹ Thiên Chúa, chúng ta thường hình dung hình ảnh Đức Mẹ tay cầm vương trượng, đầu đội triều thiên và ngự giữa muôn triều thần thánh..., mà ít ai nhớ đến hình ảnh của Mẹ Maria - một người phụ nữ bình thường, dung dị như bao người bình thường khác - nơi thôn làng Nadarét.

Lời Tin Mừng theo thánh Luca hôm nay khiến chúng ta không khỏi ngạc nhiên: “Khi các mục đồng đến nơi, họ gặp bà Đức Maria, ông Giuse và Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ” (Lc 2, 16). Quả là một cảnh sống thật trái ngược với những gì mà chúng ta vẫn tưởng tượng. Đáng lý ra, một vị Cứu Tinh phải được sinh ra nơi cung điện đền vua với quần thần hầu cận. Và đương nhiên người mẹ của vị vua đó cũng phải được các cung nữ hầu cận, nhưng đàng này, Vị Cứu Tinh lại được sinh ra nơi hang đá nghèo hèn, trong một đêm đông giá lạnh, còn bên cạnh “mẫu hậu Maria” chỉ có ông Giuse - người bạn trăm năm của Mẹ và con trẻ Giêsu.

Chắc hẳn, khi lựa chọn bài Tin Mừng theo thánh Luca (Lc 2, 16 – 21) vào thánh lễ hôm nay, Giáo Hội không muốn chúng ta nhìn Đức Mẹ như một bà hoàng, bà chúa, cho bằng, có ý giới thiệu cho chúng ta một cái nhìn đúng đắn hơn về con người và tước hiệu cao quý mà Mẹ đã lãnh nhận.

Là Mẹ Thiên Chúa, Mẹ là mẫu gương cho chúng ta trong đức tin

Từ lời xin vâng của Mẹ, một kỷ nguyên mới được mở ra: Thiên Chúa đã đi vào giữa lòng nhân loại; Ngôi Hai đã nhập thể nơi cung lòng của Mẹ... Thế nhưng, cũng từ khi nói lời xin vâng đó, Mẹ bắt đầu đón nhận biết bao nhiêu thử thách, gian nan. Gian nan khi không tìm được chỗ trong quán trọ, mặc dù đã đến ngày sinh; gian nan khi đang đêm phải cùng thánh Giuse và con trẻ trốn sang Ai-cập, vì người ta đang lùng để giết Hài Nhi Giêsu; gian nan khi bị lạc mất con trong đền thờ 3 ngày...; và nhất là khi đứng dưới chân thập giá để chứng kiến cái chết của người con một yêu dấu của mình. Thử hỏi, có người mẹ nào cầm lòng được, khi phải chứng kiến cảnh người ta hành hạ đứa con mình rứt ruột đẻ ra? Trong khi Mẹ Maria còn hơn cả một người Mẹ, thử hỏi, Mẹ không đau đớn sao được!

Là Mẹ Thiên Chúa, nhưng Mẹ cũng là người rất mực khiêm hạ

Cũng như bao thiếu nữ Dothái khác, Mẹ biết rõ lời của ngôn sứ Isaia 7 thế kỷ trước đó loan báo về việc một người nữ sẽ sinh con và người con ấy được gọi là Đấng Emmanuel. Nhưng làm sao Mẹ có thể biết được, Mẹ lại chính là người phụ nữ diễm phúc đó. Thế nên, khi được Sứ Thần Gabriel truyền tin, Mẹ tỏ ra bối rối: “Việc đó xảy đến thế nào, vì tôi không biết đến người nam” (Lc...). Và khi được sứ thần giải thích, Mẹ đã cúi đầu xin vâng với tất cả sự khiêm nhường của một người “nữ tì của Thiên Chúa”.

Vì khiêm hạ, nên Mẹ đã chấp nhận sinh con nơi hang bò lừa, trong một điều kiện thiếu thốn về vật chất, mà đáng lý ra Mẹ có quyền đòi hỏi một sự sang trọng hơn thế, vì người con mà Mẹ sắp hạ sinh là Con Thiên Chúa! Thế nhưng, Tin Mừng đã không ghi lại một lời oán than nào của Mẹ.

Đức Maria khiêm hạ là vậy, trong khi ngày hôm nay, chỉ vì một chút danh dự, chỉ vì một chút lợi lộc, người ta sẵn sàng chà đạp nhân phẩm của người khác. Biết bao cuộc tranh giành quyền lực, biết bao cuộc chiến tranh đẫm máu diễn ra hàng ngày trên thế giới, biết bao những bất đồng trong gia đình, giữa những người xóm giềng, chỉ vì thiếu sự khiêm hạ.

Cùng với tâm hồn khiêm hạ, Mẹ là người đã quên mình để vinh quang của Thiên Chúa được tỏ hiện. Mẹ đã cưu mang, che chở và nâng niu Chúa Hài Nhi. Mẹ đã nêu gương cho tất cả chúng ta hôm nay, hãy biết nâng niu những mầm sống, ngay từ khi còn trong lòng mẹ. Thế nhưng, một thực tế phũ phàng là, ngày nay, người ta có thể chưng ra một ngàn lẻ một lý do để tự cho phép mình giết đi những mầm sống ngay từ khi còn trong bào thai. Việt Nam của chúng ta là quốc gia đứng nhất nhì trong bảng xếp hạng các quốc gia nghèo nhất thế giới, nhưng lại đứng đầu trong các quốc gia có tỉ lệ phá thai cao nhất thế giới. Phải chăng, cứ nghèo là người ta tự cho phép mình cái quyền giết các thai nhi ??? Ngày xưa, bạo chúa Hêrôđê ra lệnh giết tất cả các con trẻ tại Belem từ hai tuổi trở xuống, khiến cho cả thành không ngớt tiếng khóc than. Việc làm đó của ông bị muôn đời lên án. Ngày hôm nay, người ta sẵn sàng giết chính đứa con ruột của mình ngay từ trong bào thai, thì ai sẽ lên án đây, nếu không phải là Thiên Chúa, Đấng vô cùng công thẳng?

Là Mẹ Thiên Chúa, Mẹ trở nên mẫu gương cho chúng ta trong việc lắng nghe và thực hành lời Chúa.

Thánh Luca kể lại, sau khi lắng nghe tất cả những lời mà các trẻ mục đồng nói về Hài Nhi Giêsu, Đức Maria đã giữ kín các sự việc ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng. Tại sao Mẹ lại phải “Suy đi nghĩ lại trong lòng”? Mẹ có thể biết trước tương lai không? Thưa, Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, nhưng Mẹ cũng là những con người như chúng ta. Đức tin của Mẹ vẫn phải được củng cố bằng việc “lắng nghe Lời Chúa và suy đi nghĩ lại trong lòng”. Nhiều người hôm nay than rằng: Tại sao con cầu nguyện mà Chúa chẳng nhận lời. Con đã cố gắng làm những điều thiện, nhưng chẳng thấy Chúa đoái trông. Thế nhưng, họ lại không biết rằng, những ơn lành Chúa ban cho rất nhiều, nhưng họ lại không nhận ra, bởi vì họ không biết “suy đi nghĩ lại trong lòng”, không biết đọc ra những sứ điệp của Chúa thông qua các dấu chỉ hằng ngày, mà chỉ đòi cho được những ơn huệ một cách tỏ tường.

Vậy đâu là thái độ cần có của chúng ta đối với Đức Mẹ?

Như lời trong sách giáo lý của Hội Thánh Công Giáo dạy chúng ta rằng: Tình cảm của chúng ta đối với Đức Mẹ không chỉ dừng lại ở thứ tình cảm ủy mị ướt át, mà là thái độ chiêm ngắm, và noi theo các nhân đức của Mẹ. Mừng lễ Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa hôm nay, chúng ta cũng hãy bắt chước Mẹ, sống khiêm hạ, biết tin tưởng vào quyền năng và tình thương của Thiên Chúa, biết quên mình để bảo vệ quyền lợi của Thiên Chúa, và sau cùng là thái độ lắng nghe và thực hành lời Chúa. Có như vậy, chúng ta mới xứng đáng là môn đệ của Chúa Giêsu và là con yêu dấu của Mẹ.

Lm Jos. Nguyễn Văn Tuyên

Immaculate ConceptionLễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội

Khi nhắc đến đặc ân Vô Nhiễm nguyên tội của Đức Mẹ, chúng ta không thể nào không nhắc đến thánh Bê-na-đê-ta, nhân chứng độc nhất của Mẹ Vô Nhiễm nguyên tội.

Vào năm 1854, Đức Giáo Hoàng Pi-ô thứ IX đã tuyên tín, Đức Maria là Đấng Vô Nhiễm nguyên tội. Rất nhiều trong Giáo Hội đã phản đối với nhiều lý do, và lý do chính họ nêu ra là, không có bằng chứng trong Kinh Thánh.

Vào năm 1858, tại hang đá Lộ-Đức, Đức Mẹ đã hiện ra với một cô thanh nữ quê mùa, nghèo nàn và ốm yếu tên là Bê-na-đê-ta và xác định rằng: “ Ta là Đấng Vô Nhiễm nguyên tội”.

Chính Đức Mẹ đã đích thân xác nhận tín điều trên và từ đó đến nay, Lộ Đức đã trở thành thành phố của Đức Mẹ, là trung tâm hành hương Thánh Mẫu cho toàn thể thế giới. Nơi đó Mẹ đã ban bố không biết bao nhiêu ơn lành cho những bệnh nhân hồn xác. Biết bao nhiêu người, nhờ Mẹ đã trở về với Chúa khi đến với Mẹ tại thành phố của Mẹ.

Nhiều người ngạc nhiên không biết tại sao Đức Mẹ lại chọn một đứa con gái quê mùa dốt nát như thế để làm nhân chứng cho Mẹ.

Chúng ta không thể đoán được ý Mẹ, nhưng chúng ta cũng có thể suy đoán phần nào, một cách khách quan, thanh thản, Mẹ rất tinh tế khi chọn Bê-na-đê-ta.

Vì em dốt nát không thể bịa đặt một việc lớn lao như thế, và nếu bị hoang tưởng hay dối trá, em sẽ không thể đương đầu với những người chống đối, với cả nhóm cảnh sát với những người trí thức đến tra hỏi em.

Khi Bê-na-đê-ta nghe Đức Mẹ nói rõ : “ Ta là Đấng Vô Nhiễm nguyên tội”, em không hiểu câu đó là gì. Em phải lặp đi lặp lại suốt từ hang đá cho đến nhà cha xứ. Nghe em nói thầm trong miệng điều gì đó, người ta hỏi em: “ Con nói gì thế ?” Bê-na-đê-ta trả lời một cách tự nhiên: “ Con sợ quên”.

Khi đến nhà cha xứ, ngài mở cửa cho em vào và tự nhiên em chấp tay và nói rõ: “ Ta là Đấng Vô Nhiễm nguyên tội”.

Cha xứ giựt mình: “ Con nói gì thế ?”

Bê-na-đê-ta lặp lại: “ Ta là Đấng Vô Nhiễm nguyên tội”.

Cha xứ bình tĩnh hơn vặn lại: “ Con nói gì thế ? Con có hiểu đó là gì không ?”- “Thưa cha, không, vì thế con đã lặp lại để khỏi quên”.

Cha xứ để Bê-na-đê-ta đứng đó ngơ ngác. Ngài vào phòng riêng, đóng cửa lại, đến quì trước một bức tượng Đức Mẹ, nơi Ngài thường quì cầu nguyện, ngài rơi lệ vì quá sung sướng. Mẹ đã cho mọi người thấy, Đức Giáo Hoàng đã nói đúng. Khi tuyên tín “Đức Maria là Đấng Vô Nhiễm nguyên tội”. Chính Đức Mẹ đã đích thân xác nhận tín điều nầy.

Bằng chứng khác. Bê-na-đê-ta là một đứa con gái quê mu2q dốt nát, lại ốm yếu bệnh hoạn ( bệnh suyễn), đã trở nên một đứa trẻ kho6nnngoan, tươi sáng, nhưng rất chững chạc, can đảm, nhưng không mất vẻ ngây thơ của mình.

Thời bấy giờ, chánh quyền Pháp lại là một chánh quyền nghịch đạo, đã làm hết cách để biến câu chuyện nầy thành trò cưới cho mọi người. Bê-na-đê-ta bị cảnh sát nhốt, điều tra đủ các cách, nhưng không thể nào qua mặt được cô bé 14 tuổi quê mùa nầy.

Đứng trước những lời dọa nạt, cật vấnđủ cách, Bê-na-đê-ta tỏ ra thản niên, bình tĩnh, tươi cười, trả lời chững chạc, khôn ngoan... không ai bắt bẻ được điều gì. Đây phải chăng là một sự can thiệp thầm kín của Mẹ?

Bê-na đê-ta không bao giờ tỏ ra kiêu căng vì hồng ân đặc biệt của mình, và từ đó cho đến chết Bê-na-đê-ta vẫn sống khiêm tốn thánh thiện.

Hôm nay Giáo Hội tôn vinh Mẹ Maria trong hồng ân tuyệt diệu Vô Nhiễm nguyên tội của Mẹ, chúng ta hãy vui mừng nhìn về Mẹ với tất cả lòng thảo kính, với tất cả quả tim.

Thánh Kinh không nói đến hồng ân nầy một cách rõ rệt, nhưng thánh Luca, trong trình thuật việc truyền tin đã cho thấy, tuy không rõ rệt lắm, nhưng đủ cho chúng ta thấy địa vị độc nhất vô nhị của Mẹ: “ Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng Bà”. Không ai đã được “đầy ân sủng như Mẹ”. Đầy ân sủng ở đây có thể hiểu là không tì vết, như E-và từ thuở ban đầu, trong trắng, trinh nguyên. Chỉ một mình Mẹ thôi, vì từ ngày A-đam phản bội, “ người Nữ sẽ đạp đầu con rắn” chính là Mẹ. Nếu Mẹ lệ thuộc vào ma quỉ, nếu Mẹ vướng mắc tội nguyên tổ, Mẹ làm sao đạp đầu con rắn ? Chúng ta có thể hiểu người nữ đó cũng là Giáo Hội, nhưng trước tiên là Mẹ Maria. Mẹ đã được hồng ân vô nhiễm, không phải do công nghiệp của cha mẹ, mà do Chúa Giê-su. Hơn nữa, Chúa Cha không thể để Con mình làm người mà không có một bà mẹ xứng đáng. Đặc ân vô nhiễm là một đặc ân thiết yếu để thực hiện công trình cứu chuộc của Chúa Cha.

Mẹ Thiên Chúa phải xứng đáng, Mẹ không thể khác được.

Đặc ân vô nhiễm là đặc ân cho chúng ta vì nhờ đó chúng ta nhận lãnh được quà tặng vô giá của Chúa Cha, đó là “ Con lòng bà gồm phước lạ”. Để sinh ra người con thần linh đó, Mẹ đương nhiên phải là một tạo vật duy nhất.

Chúng ta nhìn về Mẹ để tạ ơn Chúa, nhìn về Mẹ để thấy hạnh phúc của chúng ta, hạnh phúc được làm con của một bà Mẹ Vô Nhiễm nguyên tội...

Thi sĩ người Pháp Paul Claudel đã có những vần thơ tuyệt vời để ca tụng Mẹ: “ Vì Mẹ đẹp,

Vì Mẹ là Đấng Vô Nhiễm nguyên tội.

Người Nữ đã được phục hồi trong Ơn Thánh”...

( La Vierge à midi)

Mẹ đẹp !

Nét đẹp của Mẹ không là nét đẹp bên ngoài, nhưng là vẻ đẹp thâm sâu của Thiên Chúa thông ban cho tạo vật duy nhất của Ngài, để làm mẹ Ngôi Lời nhập thể.

Mẹ đẹp.

Người ta hỏi Bê-na-đê-ta: “ Bà ấy như thế nào ?”

Bê-na-đê-ta chỉ trả lời ngắn gọn: “ Bà ầy đẹp lắm !” Nghĩa là không thể diễn tả bằng ngôn ngữ của loài người. Người ta chọn một nhà điêu khắc danh tiếng để tạc tượng Đức Mẹ cho nhà thờ Lộ Đức, theo những gì Bê-na-đê-ta mô tả. Ông làm xong bức tượng và mãn nguyện vì tác phẩm của ông. Ông đã đem hết tài sức để thực hiện công trình nầy. Nhưng khi Bê-na-đê-ta nhìn thấy bức tượng, nàng chỉ nói : “Ồ ! không giống chút nào cả! Đức Mẹ đẹp lắm cơ !”

Nét đẹp của Mẹ là “ xin vâng như lời Thiên thần truyền”.

Nét đẹp của Mẹ là khiêm tốn: “ Con là nữ tỳ của Thiên Chúa”.

Hãy xin Mẹ in những nét đẹp của Mẹ vào tâm hồn chúng ta để chúng ta tiếp tục sống cho Chúa hôm nay trong chờ đợi tha thiết, ngày kia trong vinh quang.

Thánh Lễ hôm nay là một tiến nói tạ ơn của chúng ta vì chúng ta đã được đoái thương. Cha trên trời đã ban cho chúng ta một người Mẹ tuyệt vời và với người mẹ đó, chúng ta nhận lãnh hồng ân cao quí hơn là chính Chúa Giê-su, Con Mẹ, Ngài vẫn là Em-ma-nu-en của chúng ta. Chúng ta đang trông đợi Ngài đến. Cùng với Mẹ, chúng ta đón nhận Chúa Giê-su qua tấm bánh nhiệm mầu, và nhờ Mẹ, chúng ta dấn thân hơn cho Nước Cha, cho công cuộc cứu chuộc của Chúa được thực hiện trong chúng ta và trong mọi tâm hồn đang chờ đón Chúa đến.

Linh mục Trầm Phúc

Holy RosaryKINH MÂN CÔI - LỜI KINH CỦA SỨC MẠNH

Kính thưa quý OBACE, trong một năm, Giáo Hội đã dành rất nhiều ngày để tôn kính Đức Maria. Tuy nhiên, Giáo Hội vẫn muốn dành trọn hai tháng để tôn kính đặc biệt người mẹ của mình. Tháng năm là tháng của niềm vui hân hoan, con cái từ khắp nơi đem về dâng Đức Mẹ những bông hoa, những điệu múa để tỏ lòng thảo hiếu biết ơn. Đặc biệt, tháng mười hàng năm, Giáo hội kêu gọi mọi người đến với Mẹ Maria qua việc đọc kinh Mân Côi với lòng tin tưởng phó thác. Trải qua lịch sử hơn hai ngàn năm, chắc hẳn Giáo Hội đã có kinh nghiệm và đón nhận được sự trợ giúp kỳ diệu của Đức Mẹ qua lời Kinh Mân Côi. Vì thế, trong ngày lễ Mân Côi hôm nay, chúng ta có dịp suy gẫm và cảm nhận sự kỳ diệu nơi lời kinh đơn sơ này – Lời kinh có sức mạnh chạm đến lòng thương xót của Thiên Chúa và trái tim từ mẫu của Mẹ; là lời kinh có sức mạnh bảo vệ gia đình và chống lại ma quỷ.

1/ Kinh Mân Côi có sức mạnh chạm đến Lòng thương xót của Chúa và trái tim từ mẫu của Mẹ.

Kinh Kính Mừng là lời kinh đơn sơ nhất, là lời kinh mà chúng ta có thể thuộc khi còn trong vòng tay của cha mẹ. Lời kinh này ca tụng quyền năng của Thiên Chúa trong công trình cứu chuộc nhân loại mà Thiên Chúa đã chuẩn bị từ ngàn xưa. Lời tuyên phạt con rắn: “Ta sẽ đặt mối thù nghịch giữa ngươi và người phụ nữ, giữa miêu duệ ngươi và miêu duệ người ấy, Người miêu duệ ấy sẽ đạp nát đầu ngươi, còn ngươi thì rình cắn gót chân Người”. Qua lời này, Thiên Chúa đã nghĩ đến Đức Maria và đã tuyển chọn Mẹ.

Đến thời đã định, Thiên Chúa sai sứ thần đến hỏi ý kiến Đức Maria. Việc làm này của Thiên Chúa cho thấy, Ngài hoàn toàn tôn trọng Đức Maria, Ngài muốn để cho Mẹ hoàn toàn tự do nói có hay không trước lời đề nghị của Thiên Chúa. Khác với Eva đã muốn mình ngang hàng với Thiên Chúa, dẫn đến hành động bất tuân, thì Đức Maria chỉ dám nhận mình là nữ tỳ của Thiên Chúa và hoàn toàn vâng phục thánh ý Ngài. Câu chuyện Truyền Tin cho thấy, khi gặp Đức Mẹ, sứ thần đã hết sức cung kính và dùng một lời chào vô cùng trang trọng: “Mừng vui lên hỡi Bà Đầy Ơn Phúc, Thiên Chúa ở cùng Bà”. Lời chào này trước hết là lời ca tụng Thiên Chúa - Đấng đã đổ đầy ơn phúc xuống trên Mẹ và tuyển chọn Mẹ. Kế đến là lời cung kính chào mẹ vì Mẹ đã dám mở lòng, làm cho mình trở nên khiêm nhường trống rỗng để cho Chúa đổ tràn đầy ơn phúc của Ngài xuống trên Mẹ. Ơn phúc lớn lao nhất đó là việc Thiên Chúa ở cùng Mẹ. Cụ thể cho việc Thiên Chúa ở cùng Mẹ đó là: “Này bà sẽ thụ thai sinh hạ một con trai.. đặt tên là Giêsu... Người sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao”.

Khi đọc kinh mân côi: “Kính mừng Maria đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng bà...” là chúng ta lặp lại lời của sứ thần ca tụng Thiên Chúa và kính mừng Mẹ. Ca tụng lòng thương xót của Chúa vì Ngài không để cho nhân loại phải chìm trong đau khổ và sự chết nhưng đã ra tay cứu chuộc nhân loại. Ngài không tiếc chính Con Một mình nhưng đã trao tặng Người con ấy cho nhân loại chúng ta. Vì thế, lời kinh Kính Mừng là lời kinh ca tụng Lòng Thương Xót Chúa. Đức Maria đã thưa tiếng “Xin Vâng” để cho Thiên Chúa thực hiện chương trình của Ngài. Với lời thưa khiêm nhường này, Mẹ đã hoàn toàn trao phó cuộc đời mình cho Thiên Chúa và có thể nói từ giây phút này, Mẹ cũng trao phó cả cuộc đời cho nhân loại. Do đó, khi đọc kinh Kính Mừng, chúng ta cũng chạm đến lòng từ mẫu của Mẹ. Vì thế, mỗi khi lời kinh này được đọc lên với sự thành tâm tin tưởng, Thiên Chúa sẵn sàng ra tay trợ giúp chúng ta qua sự bầu cử của Mẹ và vì Mẹ.

2/ Kinh Mân Côi có sức mạnh bảo vệ các gia đình – Theo thống kê cách đây ít năm của đài BBC cho thấy: Các gia đình duy trì việc đọc kinh mân côi vào các buổi tối thì ít đổ vỡ hơn các gia đình không đọc kinh. Trong kinh nghiệm đời sống đạo cũng chứng minh cho chúng ta rằng: Gia đình nào mỗi ngày xụm họp cùng nhau trước bàn thờ Chúa, cùng cất lên lời kinh Kính Mừng Maria...thì Chúa và Đức mẹ sẽ gìn giữ và ở lại với gia đình ấy. Chúng ta còn nhớ câu chuyện Chúa Giêsu làm phép lạ hóa nước thành rượu ngon tại Cana. Tin Mừng ghi lại: Chúa Giêsu và Đức Maria được mời dự tiệc. Chính vì được mời dự tiệc, mà hôm đó, Đức Mẹ, với sự nhạy bén tinh tế của một người mẹ, đã xin Chúa Giêsu can thiệp để giải cứu gia đình đám cưới khỏi tình trạng thiếu rượu. Khác với những khách mời khác, Mẹ hiện diện trong tiệc cưới không chỉ để chia sẻ niềm vui, mà Mẹ còn hiện diện như người có trách nhiệm, là thành viên trong gia đình. Chính vì sự hiện diện tích cực như thế, Mẹ quan sát thấy sự lúng túng của gia nhân và gia đình khi hết rượu. Mẹ đã chủ động quay về phía Chúa Giêsu và đề nghị với Chúa: “Họ hết rượu rồi”. Mẹ muốn xin với Chúa can thiệp để cho cuộc vui của bữa tiệc không bị gián đoạn, cho gia đình không phải xấu hổ và cô dâu chú rể không phải khó xử. Chúa đã ra tay, Ngài đã làm cho nước hóa thành rượu, không phải là rượu thường, mà là rượu ngon hơn trước, khiến cho mọi người ngạc nhiên.

Cũng vậy, nếu mỗi gia đình chúng ta mời Chúa và Đức Mẹ vào trong gia đình của mình, mời các Ngài cùng dùng bữa tối với gia đình; mời Chúa cùng hiện diện trong giờ kinh mỗi ngày và cùng chia sẻ mọi lo toan của gia đình, Chúa và Đức Mẹ sẽ giải gỡ các khó khăn của gia đình. Việc cùng nhau đọc kinh mỗi tối, mời Chúa hiện diện trong gia đình, trong mỗi bữa ăn không phải là điều khó, chỉ có điều là chúng ta có muốn mời Chúa hay không mà thôi. Việc đọc kinh mân côi với nhau, không quan trọng ở việc đọc nhiều hay ít, nhưng quan trọng là việc chúng ta ở bên nhau và mời Chúa và Mẹ hiện diện. Vì thế, có thể đọc mười kinh mỗi tối cũng được. Ngoài ra, lúc đi làm, khi đi đường, lúc rảnh rỗi, hãy nhớ đến Chúa và Đức Mẹ qua tràng chuỗi mân côi. Trên trang mạng cách đây không lâu có đăng hình của một bác chạy xe ôm, lúc không có khách, trên tay bác luôn có tràng chuỗi nhỏ và miệng thầm thĩ đọc kinh, lần hạt. Chúng ta cũng có thể thấy nhiều người như thế, khi đi thể dục, khi đạp xe, hay lúc đi đường, trên tay vẫn có tràng hạt và miệng thầm thĩ: “Kính mừng Maria...” Chắc chắn Chúa và Đức Mẹ không bỏ rơi những người thành tâm như thế.

3/ Kinh Mân Côi có sức mạnh chống lại ma quỷ. Ma quỷ là một thế lực có thật trên trần gian này và nó có sức mạnh chi phối được nhiều người, cũng như gây ra nhiều tai ương và đau khổ cho con người. Ma quỷ còn có khả năng mượn những điều tốt đẹp và nhiều khi nó nhân danh Thiên Chúa để gieo những điều xấu và sự dữ. Trong lần cám dỗ Chúa Giêsu, nó khoác lên mình cái áo tốt đẹp, nó nói lời của Thiên Chúa và nó nhân danh Thiên Chúa để xúi Chúa Giêsu làm theo ý riêng của mình mà không theo ý Thiên Chúa Cha. Trong lịch sử Giáo Hội và thế giới, ma quỷ cũng dùng rất nhiều cách thế để kéo con người dần dần đi xa con đường của Thiên Chúa, làm sai ý Chúa. Có nhiều lần nó dùng cả những người được xem là thánh thiện, như các Giám mục, Linh mục, Tu sĩ để gây chia rẽ trong Giáo Hội. Làm thế nào để phân biệt việc làm của Thiên Chúa, của Đức Mẹ với việc làm của ma quỷ? Việc của Thiên Chúa thì đem đến bình an, còn việc đưa tới bất an, lo sợ là do ma quỉ. Chỉ có Chúa và Đức Mẹ mới có thể đem bình an đến cho con người; Chúa và Đức Mẹ không bao giờ hù dọa con người. Việc hù dọa con người chắc chắn là do ma quỷ.

Trong lịch sử cũng cho thấy ma quỷ rất sợ Thánh Giá và tràng hạt Mân Côi. Bộ phim kinh dị “The Nun” đang thu hút nhiều người trong vài tuần qua đã cho thấy, Đức Maria là người dẫn đường và tràng hạt mân côi là vũ khí để chống lại ma quỷ. Cuộc chiến giữa ác quỷ Valak và các Sơ trong phim đó là một cuộc chiến có thực trong đời sống tự nhiên và thiêng liêng. Đó là cuộc chiến giữa Đức Tin và Sự Sợ Hãi, cuộc chiến mà ở đó chỉ có Lời Cầu Nguyện, Đức Tin và Sự Hy Sinh mới có thể chiến thắng được ma quỷ. Trong cuộc chiến với ma quỷ, nhiều khi ta cứ tưởng rằng Thiên Chúa không có mặt và Ngài không hiện hữu. Nhưng thật sự Ngài vẫn ở đó để đồng hành với chúng ta, và có Mẹ Maria ở bên che chở chúng ta. Vì thế, đừng ngại ngùng cầm lấy tràng chuỗi Mân Côi mà thưa lên rằng: “Kính mùng Maria đầy ơn phúc ... Thánh Maria ... cầu cho chúng con”. (x Fb Vĩnh Tài Bùi)

Chuỗi Mân côi không làm cho chúng ta trở nên quê mùa hay lạc hậu, cũng không làm ta thất vọng. Những lúc đau khổ, khi vui, khi buồn, lúc gia đình căng thẳng, khi nóng nảy bực bội, khi bế tắc trong cuộc sống..., hãy tin tưởng cầm lấy tràng hạt Mân Côi, chúng ta sẽ thấy phép lạ thật lớn lao được ban cho chúng ta.

Xin cho chúng ta biết đáp lại lời mời gọi của Me Fatima: không ngừng canh tân đời sống, tôn sùng Đức Mẹ và nhất là siêng năng lần hạt Mân Côi mỗi ngày; Mẹ sẽ ở bên giải gỡ cho những khó khăn của chúng ta và bảo vệ chúng ta khỏi sự dữ. Amen

Lm. Giuse Đỗ Đức Trí - GP Xuân Lộc

2018

MaryNgày lễ sinh nhật Mẹ Maria hôm nay, Giáo Hội cho chúng ta đọc lại gia phả của Chúa Giêsu. Ta thấy, trong suốt chiều dài lịch sử thấy Thiên Chúa đã tuyển chọn gia tộc cho Người cách đặc biệt.

Hình ảnh bốn phụ nữ được Kinh Thánh nói đến như là một tiên báo cách kín đáo về Đức Kitô, Đấng sẽ đến để cứu độ những người tội lỗi, và đón nhận mọi dân mọi nước vào vương quốc của Người. Việc tuyển chọn những nhân vật này không phải là điều đáng tự hào vì lý lịch của họ. Nhưng tiêu chuẩn của Thiên Chúa khác với con người. Người chọn sự yếu kém để nói lên lượng từ bi của Người.

Đây là "gia phả của đức tin và ân sủng". Vì cho dẫu gia phả này được đan dệt bằng biết bao tội nhân và những kẻ gian ác, nhưng lịch sử ấy lại là lịch sử của tình thương và lòng thương xót Chúa, được chính Thiên Chúa can thiệp đúng lúc. Thiên Chúa đã viết lịch sử ấy bằng những nét đặc biệt, khác thường. Cái đặc biệt nhất vẫn là Thiên Chúa đã không bỏ rơi một nhân loại phản bội lại Ngài, không làm ngơ trước sự đau khổ và tội lỗi của con người. Thiên Chúa đã hành xử thật tốt đẹp với con người, đối với từng người. Chính vì một lịch sử, một thế giới tội lỗi mà Mẹ Maria đã sinh ra để cưu mang Chúa Giêsu Đấng cứu độ chúng ta

Mẹ Maria đã làm loé lên niềm hy vọng cho một trần gian đang lầm lỗi. Mẹ đã điểm tô cho một lịch sử đã bị ông bà nguyên tổ làm lu mờ vì tội phản nghịch cùng Thiên Chúa. Mẹ Maria đã làm cho lịch sử hồi sinh khi ông bà nguyên tổ làm hoen ố vì tội lỗi. Nhân loại đáng lẽ bị đắm chìm trong sự chết, nhưng Mẹ đã làm cho có sự sống viên mãn.

Hôm nay là lễ sinh nhật Đức Maria, Mẹ Đức Giêsu và là Mẹ chúng ta, chúng ta không thể không vui, và cùng nhau chúc mừng tuổi Mẹ. Ngày này phải là ngày vui chung của toàn thế giới, chứ không phải riêng cho một dân tộc hay một nhóm người nào. Bởi ngày sinh của Mẹ có liên quan trực tiếp đến biến cố Ngôi Lời Nhập Thể. Ngày Mẹ chào đời đánh dấu sự nối kết giữa Tân ước và Cựu ước, chấm dứt thời kỳ chờ đợi và những lời hứa, khai mở một thời kỳ mới, thời kỳ ân sủng và ơn cứu độ trong Đức Kitô. Mẹ thật xứng : "Đức Mẹ làm cho chúng con vui mừng".

Maria ! Mẹ Ngôi Hai Con Chúa

Chúc tụng Mẹ! Mừng Sinh nhật hôm nay

Chúa thương Mẹ ban ơn phúc dư đầy

Hình ảnh Mẹ, ngàn đời con ca tụng.

Quả thật, ngày sinh nhật của Mẹ đã khai mở lời hứa của Thiên Chúa bước đầu thành sự, đồng thời, Mẹ là Nữ Tử Sion, là hy vọng của nhân loại. Mẹ ra đời để làm Mẹ Đấng Cứu Thế. Có cuộc sinh nhật của Mẹ, mới có sự ra đời của Đức Giêsu, có Đức Giêsu mới có Đấng cứu độ chúng ta. Như vậy, ngày sinh nhật của Mẹ đã được đặt vào Mầu Nhiệm Nhập Thể, cứu độ. Mẹ như Sao mai dẫn lối đưa đường, Mẹ chính là hừng đông, là ánh bình minh báo trước Mặt trời công chính là Đức Kitô.

Vì thế trong ngày Đức Maria chào đời Giáo Hội đã kêu lên : "Ôi lạy Mẹ! Ngày sinh của Mẹ đã đem lại cho thế giới sứ điệp vui mừng và hy vọng. Vì Đức Kitô Chúa chúng con là Mặt trời soi đường nay nẻo chính đã từ cung lòng Mẹ sinh ra, Ngài là Đấng huỷ bỏ lời chúc dữ, đem lại muôn phúc lành, Đấng tiêu diệt thần chết và ban phúc trường sinh".

Thánh Gioan Đamatsô đã dâng lời ca tụng : "Hết thảy mọi người hãy đến, chúng ta hân hoan mừng ngày sinh ra niềm vui sướng của cả thế giới ! Hôm nay đây, từ một bản tính thế trần, một thiên đàng đã thành hình dưới thế. Hôm nay đây, việc cứu rỗi đã bắt đầu cho thế giới!"

Vậy, hôm nay, mọi loài trên trời dưới đất hãy cùng nhau hoan hỷ và đồng ca, nhảy múa biểu lộ niềm vui bất cứ vật nào ở trong trần gian cũng như ở trên trần gian hãy họp nhau mừng lễ. Quả thật, hôm nay thánh điện của Đấng tạo thành muôn vật đã được xây lên, và một thọ tạo, vì một lý do mới mẻ và thích đáng, đã được chuẩn bị làm nơi cư trú mới cho Đấng Hoá Công.

Khi mừng sinh nhật nhau, chúng ta thường tặng nhau những bó hoa, những món quà. Mừng ngày sinh nhật của Mẹ hôm nay: "mãi mãi nhân loại sẽ khơng ngớt cùng Mẹ ca tụng Thiên Chúa:

Chúng con tại thế tưng bừng,

Cùng nhau ca hát vang lừng bốn phương.

Tạ ơn Thiên Chúa tình thương,

Chọn người Trinh Nữ ngát hương ngàn đời.

Chúng ta hãy quyết hái nhiều hoa xinh đẹp để dâng kính Mẹ, tỏ lòng mến yêu Mẹ bằng những kinh nguyện chân thành dâng lên Mẹ, những đóa hoa tươi kính dâng Mẹ sẽ là những tâm tình đẹp chúng ta làm vui lòng Mẹ. Nhất là chúng ta hãy tiếp tục làm những việc đạo đức thông thường dâng kính Mẹ, như : lần hạt Mân Côi, đọc kinh Truyền tin, nguyện kinh cầu, một cách phi thường. Có nghĩa là miệng đọc, lòng suy và cố gắng đem ra thực hành trong đời sống, để cuộc đời của Mẹ, vốn đã trở nên một với cuộc đời của Đức Giêsu cũng được thể thể hiện trong cuộc sống của mỗi người chúng ta.

Mừng lễ sinh nhật Đức Mẹ, chúng ta hiệp cùng Giáo Hội ca tụng, tung hô Mẹ. Với những lời chúc tốt lành nhất dâng về Mẹ cuộc sống hiện tại, quá khứ và tương lai làm món quà mừng Mẹ tuổi mới.

Mẹ sinh ra giữa muôn hoa hương ngát

Với màu sắc lộng lẫy đẹp đất trời

Mẹ rạng ngời trong hào quang vời vợi

Cùng Triều Thần con Chúc khen mừng Mẹ. Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

AssumptionĐức Maria là người được chúc phúc, không chỉ vì Mẹ là người đã lắng nghe Lời Thiên Chúa, mà còn vì Mẹ đã đem Lời Chúa ra thực hành. Khi đã đón nhận Ngôi Lời Thiên Chúa vào lòng của mình, Mẹ đã không giữ Ngôi Lời lại cho riêng mình mà vội vàng đem Chúa đến cho người khác.

Hôm nay, cùng với toàn thể Hội Thánh, chúng ta hân hoan mừng lễ Đức Maria, hồn xác lên trời. Mẹ lên trời, mang lại cho chúng niềm hy vọng, cậy trông và đầy ủi an, vì Mẹ đi đâu thì chúng ta cũng đi đó.

Nhưng tại sao Đức Mẹ lại được đặc ân cao cả như vậy? Bởi cứ theo lẽ thường, thì sau khi nguyên tổ phạm tội, tất cả loài người đều phải chịu đau khổ và cuối cùng phải chết. Thân xác của chúng ta, khi kết thúc cuộc đời này, phải hư nát đi, đợi chờ ngày phán xét trong cuộc phán xét chung thẩm. Nhưng đối với Đức Mẹ, trong niềm tin của chúng ta, thân xác Mẹ đã không bị hủy diệt, vì Mẹ được Chúa đưa về trời cả hồn lẫn xác.

Phải chăng vì Mẹ là Mẹ Thiên Chúa? Phải chăng vì Mẹ đã được ơn vô nhiễm nguyên tội ngay từ lúc đầu thai? Phải chăng vì Mẹ là Đấng trọn đời đồng trinh? Hay phải chăng Mẹ đã đồng công cứu chuộc cùng với người Con chí thánh của mình là Đức Giêsu Kitô?

Vâng, đúng như vậy. Nhưng hôm nay, Tin Mừng theo thánh Luca còn cho chúng ta biết thêm một lý do quan trọng nữa. Sở dĩ Đức Mẹ được đưa lên trời cả hồn lẫn xác là vì Mẹ là Đấng đã vâng nghe và tuân giữ Lời Thiên Chúa.

Mẹ là mẫu gương lắng nghe Lời Thiên Chúa

Bài đọc thứ nhất được trích trong sách Sử Biên Niên, nói về việc vua Đavít cho triệu tập toàn dân lại, và tổ chức một cuộc rước kiệu hòm bia Thiên Chúa thật linh đình. Cùng với nhà vua, còn có những người đứng đầu các thầy Lêvi, các ca viên, nhạc công, với đàn sắt, đàn cầm, thanh la não bạt. Đoàn rước tiến đi trong tiếng đàn ca hoan hỉ cùng tiến về Lều Hội Ngộ – là nơi đặt Hòm Bia. Họ vừa đi vừa hát: “Lạy Chúa, xin lên đường tới nơi an nghỉ. Chúa và Hòm Bia oai quyền Chúa cùng đi”. Hòm Bia giao ước là chiếc hòm được chạm trổ công phu, trong đó có chứa 2 tấm bia giao ước có ghi 10 điều răn mà Thiên Chúa đã truyền cho dân của Ngài qua trung gian là Môsê. Đối với Itraen, sự hiện diện của Hòm Bia giao ước cũng chính là sự hiện diện của Giavê Thiên Chúa. Đó cũng là niềm tự hào của dân Chúa chọn, bởi vì xung quanh Itraen, không có vị thần nào lại trực tiếp ở với dân của mình. Quả thật, còn gì hạnh phúc hơn khi được Thiên Chúa ở cùng.

Đức Trinh Nữ Maria cũng được nhìn nhận là Hòm Bia Thiên Chúa, như chúng ta vẫn đọc trong kinh cầu Đức Bà: “Đức Bà là Hòm Bia Thiên Chúa”. Sở dĩ chúng ta tuyên xưng như vậy, là vì Đức Mẹ là người đã cưu mang Ngôi Lời Thiên Chúa là Đức Giêsu Kitô trong cung lòng của mình. Kể từ lúc Mẹ nói lời xin vâng khi sứ thần Thiên Chúa truyền tin, thì cung lòng của Mẹ trở nên Hòm Bia cho Thiên Chúa ngự vào.

Khi xuống thế làm người, Ngôi Lời Thiên Chúa đã không chọn một người Mẹ cao sang, quyền quý, nhưng đã chọn Đức Maria, một tì nữ thấp hèn, trong ngôi làng nhỏ bé Nazaret. Tại sao vậy? Thưa bởi vì Mẹ đã lắng nghe lời Thiên Chúa. Cũng như biết bao thiếu nữ Dothái khác, Mẹ cũng biết rõ lời ngôn sứ Isaia loan báo 8 thế kỷ trước đó: “Này đây, một trinh nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai”. Nhưng Mẹ không bao giờ nghĩ là mình lại chính là “thiếu nữ đầy ơn phúc ấy”. Chẳng thế mà khi thiên thần Gabriel truyền tin, Mẹ hết sức ngỡ ngàng: “Việc đó xảy đến thế nào, vì tôi không biết đến người nam?”. Sau khi nghe thiên thần giải thích, Mẹ đã hiểu rằng, Mẹ đang được mời gọi cộng tác vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa và Mẹ đã cúi đầu thưa “Xin vâng” với tất cả sự khiêm tốn và lòng tin tưởng thiết tha: “Này tôi là nữ tì của Thiên Chúa, tôi xin vâng như lời sứ thần truyền”.

Nếu không là người thường xuyên suy gẫm Lời Chúa, chắc hẳn khó lòng mà hiểu ngay ra được đâu là chương trình và ý định của Thiên Chúa.

Mẹ là mẫu gương thực hành Lời Thiên Chúa

Đức Maria là người được chúc phúc, không chỉ vì Mẹ là người đã lắng nghe Lời Thiên Chúa, mà còn vì Mẹ đã đem Lời Chúa ra thực hành. Khi đã đón nhận Ngôi Lời Thiên Chúa vào lòng của mình, Mẹ đã không giữ Ngôi Lời lại cho riêng mình mà vội vàng đem Chúa đến cho người khác như Tin Mừng theo thánh Luca đã thuật lại: Trong những ngày ấy, Đức Maria vội vã lên đường đi đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giuđa, để gặp bà chị họ Êlisabet, khi ấy đang có mang được 6 tháng. Mẹ đã ở đó giúp bà chị họ cho tới khi “Mẹ tròn con vuông”.

***

Mừng lễ Đức Trinh Nữ Maria hồn xác lên trời hôm nay, Lời Chúa cũng mời gọi chúng ta hãy nhìn lại đời sống của mình xem chúng ta đã biết lắng nghe và thực hành Lời Thiên Chúa hay chưa?

Trên một tấm bia mộ cổ của một người Công Giáo đạo đức có ghi đôi câu đối: “Tin không việc làm, đức tin chết. Sống chẳng yêu thương, cuộc sống tàn”. Quả thật, chủ đề “Lắng nghe và thực hành Lời Chúa”, có thể chúng ta đã nghe đến nhàm tai; nhiều người chép miệng: “ôi dào, biết rồi, khổ lắm, nói mãi”.

Vâng, từ xưa tới nay, tôi và anh chị em đã từng tự hào mình là người có đạo, chúng ta đã nghe Lời Chúa rất nhiều, nhưng trong giáo xứ, đây đó vẫn có những tranh giành, vẫn có những gia đình chưa được hòa thuận, vẫn có những gian lận trong làm ăn, vẫn có những bất công trong việc hành xử với anh chị em cùng xóm làng, cùng xứ đạo. Liệu như vậy, có phải chúng ta đang thực hành Lời Chúa dạy ?

Chúng ta tự hào rằng: mình vẫn đi nhà thờ, vẫn đọc kinh, tham dự Thánh Lễ, nhưng đôi khi lại thiếu bác ái với anh chị em của mình.

Chúa nói: “Ai nghe và thực hành Lời Chúa thì như người khôn biết xây nhà trên đá”. Còn chúng ta, mặc dù tin vào Đức Ki-tô, nhưng trong cuộc sống thực tế, chúng ta lại xây ngôi nhà cuộc đời của mình trên những thứ cát như tiền tài, quyền lực, danh vọng...

Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI đã khẳng định: “Ngày nay, người ta cần những chứng nhân hơn là những nhà giảng thuyết. Sở dĩ người ta nghe lời những nhà giảng thuyết bởi vì người ta đã thấy họ sống chứng nhân”. Thánh tông đồ Giacôbê Tông đồ cũng đã từng nói: “Bạn hãy chứng minh cho tôi thấy đức tin không có việc làm của bạn. Còn tôi, bằng việc làm, tôi sẽ chứng minh cho bạn thấy thế nào là tin” (Gc 2, 18). Chúng ta nghĩ gì về lời mời gọi đó?

“Lạy Chúa, từ trước tới nay, chúng con vẫn thường tự hào mình là người có đạo, chúng con đã nghe Lời Chúa dạy rất nhiều, nhưng lại chưa đem ra thực hành. Nhiều lần chúng con ngại ngần, nhát đảm, không dám làm chứng cho Chúa qua việc làm chứng cho sự thật, cho những điều thiện khiến cho nhiều người vì chúng con mà mất niềm tin vào Chúa.

Nguyện xin Chúa, qua lời cầu bầu của Đức Trinh Nữ Maria, giúp chúng con kể từ đây, thống nhất giữa lời nói và việc làm; để mai ngày, khi đến trước tòa Chúa, chúng con sẽ vui mừng nhận được lời chúc phúc của Chúa: “Phúc cho anh em là những người đã lắng nghe và thực hành Lời Chúa”. Amen.

Lm Jos. Nguyễn Văn Tuyên