nscarmenTrong số các lễ nhớ Đức Mẹ, ngoài lễ Đức Mẹ Lộ Đức, Giáo Hội còn có lễ Đức Bà Camêlô. Tước hiệu Camêlô gắn liền với một dòng tu được thành lập trên núi Carmel trong vùng Galilea bên Palestina. Nó diễn tả một trong những hình thức phổ biến nhất về lòng sùng kính Đức Mẹ trong lịch sử Giáo Hội. Trong lịch phụng vụ cải tổ sau Công Đồng Chung Vaticăng II lễ này được mừng vào ngày 16 tháng 7, và là lễ nhớ không bắt buộc.

Carmel là một dẫy núi dài hơn 25 cây số, trải dài từ vịnh Haifa trên biển Địa Trung Hải cho tới đồng bằng Esdrelon. Chỗ cao nhất là 546 mét. Núi Carmel hay được Thánh Kinh nhắc tới vì cây cối xanh tươi của nó; và nói tới Carmel là nói tới vẻ đẹp và sự phong phú phì nhiêu. Chẳng hạn trong chương 35 ngôn sứ Isaia khích lệ thiên nhiên vui lên vì Thiên Chúa là Đấng Cứu Độ sắp tới: ”Vui lên nào hỡi sa mạc và đồng khô cỏ cháy, vùng đất hoang hãy mừng rỡ trổ bông, hãy tưng bừng nở hoa như khóm huệ, và hân hoan múa nhảy reo hò. Sa mạc được tặng ban ánh huy hoàng của núi Libăng, vẻ rực rỡ của núi Carmel và đồng bằng Sharon. Thiên hạ sẽ nhìn thấy ánh huy hoàng của Giavê và vẻ rực rỡ của Thiên Chúa chúng ta” (Is 35,1-2).

Trong chương 7 sách Diễm Ca chàng là phu quân dùng hình ảnh núi Carmel để tả cái đẹp của nàng là hiền thê: ”Trên thân mình, đầu em đỉnh núi Carmel, tóc em một giải lụa hồng, bềnh bồng sóng nước, xiềng xích quân vương” (Dc 7,6).

Nói về ngày Thiên Chúa đánh phạt Israel ngôn sứ Amos viết ở ngay đầu chương 1: ”... đồng cỏ của mục tử nhuốm mầu tang tóc, đỉnh núi Carmel nay đã héo tàn” (Am 1,2).

Truyền thống gằn liền núi Carmel với ngôn sứ Elia, mặc dù Thánh Kinh Cựu Ước chỉ nhắc tới ngôn sứ một lần duy nhất. Ngày nay người A rập vẫn gọi núi Carmel là ”Gebel Mar Elyas” ”Núi thánh Elia”. Chương 18 sách các Vua I kể rằng hồi thế kỷ thứ IX trước công nguyên, vua Akháp nghe lời hoàng hậu Dêdabel cùng với dân Israel thuộc vương quốc miền Bắc bỏ Giavê Thiên Chúa để tôn thờ thần Baal và các thần ngoại. Trong các ngôn sứ của Thiên Chúa chỉ còn lại một mình Elia. Nhưng ngôn sứ can đảm dám thách đố 450 ngôn sứ giả của hoàng hậu Dêdabel trong một hy lễ toàn thiêu trên núi Carmel để chứng minh cho dân Israel thấy ai là Thiên Chúa thật.

Vì phía các ngôn sứ giả của hoàng hậu Dêdabel đông hơn, Elia nhường cho họ dâng lễ tế trước. Họ nhảy múa và dùng gươm giáo rạch mình từ sáng tới trưa mà không thấy các thần trả lời. Tới phiên ngôn sứ Elia, ông xếp củi, sát tế bò để lên trên, rồi sai người tưới nước ba lần ướt đầm đìa cả rãnh chung quanh bàn thờ, sau đó ngôn sứ cầu nguyện và lửa từ trời xuống thiêu rụi của lễ sát tế, củi, đá và bụi, và làm khô nước trong rãnh. Dân chúng phủ phục sát đất và tuyên xưng Chúa là Thiên Chúa. Ngôn sứ đã sai dân bắt 450 ngôn sứ giả và giết hết tại suối Kison (1 V 18,20-40). Từ đó núi Carmel được gắn liền với ngôn sứ Elia và cũng được gọi là ”núi của ngôn sứ Elia”.

Vào hậu bán thế kỷ XII có một vài vị ẩn tu đã tới sống trên núi Carmel. Họ là những tín hữu tây phương đạo đức hành hương Thánh Địa, chắc hẳn là đi theo các đạo binh Thánh Giá cuối cùng của thời đó sang Palestina để bảo vệ các nơi thánh của Kitô giáo. Họ đã được Đức Alberto Avogadro, Thượng Phụ Giêrusalem giữa các năm 1206-1214, tụ họp lại với nhau thành nhóm, và viết cho họ một Quy luật sống. Trong Quy luật ấy có nói rằng ”họ được thiết lập gần nguồn suối của ngôn sứ Elia, trong thung lũng Es-siah”, nơi lộ trình ”Các khu vực của Giêrusalem”, là cuốn sách hướng dẫn hành hương biên soạn giữa các năm 1220-1229, chỉ cho thấy ”các tu sĩ Carmel” sống bên cạnh một ”nhà thờ nhỏ của Đức Bà”. Người ta không biết nhà thờ này đã được xây khi nào, nhưng xem ra đó là ”ngôi nhà thờ nhỏ rất đẹp” được sách hướng dẫn ”Các nẻo đường và các cuộc hành hương Thánh Địa” nói tới. Trong khi chúng ta không biết gì về một ngôi nhà thờ khác như là ”công trình rất sang trọng”, được Đức Giáo Hoàng Urbano IV nói tới trong bức thư ”Quoniam – Thấy rằng” đề ngày 19 tháng Hai năm 1263.

Có điều chắc chắn là lúc đó nhóm các ”tu huynh” đã di cư sang cả tây phương và có tên gọi là ”Dòng Đức Thánh Maria núi Carmel” theo tước hiệu chắc chắn đã là thói quen. Và tước hiệu này đã xuất hiện lần đầu tiên trong một tài liệu của Đức Giáo Hoàng Innocenzo IV đề ngày 13 tháng Giêng năm 1252. Và điều hoàn toàn chính xác đó là vào tiền bán thế kỷ XIII dòng này đã được thành lập dâng kính Đức Trinh Nữ Maria, và các tu sĩ khấn tận hiến cho Mẹ Thiên Chúa. Việc tận hiến này được diễn tả ra một cách nền tảng qua sự lựa chọn Đức Maria như là ”Bà Chủ” của ”nơi” đầu tiên trên núi Carmel. Theo ý niệm pháp lý thời trung cổ sự kiện này khiến cho các tu sĩ của dòng là những người hoàn toàn phục vụ Bà Chủ, với một sự tôn sùng đặc biệt. Lời khấn đối với Đức Maria được diễn tả ra trong cuộc sống của các tu huynh với nhiều dấu chỉ, kể cả các dấu chỉ phụng vụ, và lòng sùng mộ có tính cách cộng đoàn và cá nhân.

Chúng ta có thể nói rằng Đức Trinh Nữ Maria của núi Carmel được cảm nghiệm, tôn sùng và chiêm ngắm bởi các tu huynh và tất cả những ai sau này sẽ chia sẻ cuộc sống của các vị, chẳng hạn như các nữ tu, các huynh đoàn và các giáo dân dòng ba Đức Bà Camêlô. Đức Bà Camêlô là trung tâm kinh nghiệm tinh thần của nhóm được thành lập bên Thánh Địa với mục đích sống đời hoàn thiện theo tinh thần Phúc Âm, trong sự cô tịch chiêm niệm, tập trung nơi lời cầu nguyện liên lỉ, việc lắng nghe Lời Chúa, trong một bầu khí đơn sơ, nghèo nàn và trong công việc lao động, noi gương đời sống của Đức Maria tại Nagiarét.

Việc quy chiếu núi Carmel gắn liền với tên Đức Maria, chỉ đơn thuần có tính cách địa lý lịch sử, để ám chỉ nơi dòng đã khai sinh và có các tu huynh sống. Vì thế trong nguồn gốc của nó tước hiệu ”Đức Thánh Maria của núi Camêlô” không ám chỉ một hình ảnh đặc biệt hay một khía cạnh mới của việc tôn sùng. Đây là điều xác đáng, vì trong việc biểu lộ cụ thể lòng sùng mộ được diễn tả ra với các tước hiệu của các nhà thờ khác nhau, các tu sĩ Camêlô nêu bật những khía cạnh khác nhau trong cuộc đời của Đức Maria như: chức làm Mẹ Thiên Chúa, sự đồng trinh, việc được thụ thai vô nhiễm nguyên tội, biến cố truyền tin. Vì vậy trong truyền thống tiên khởi ”Đức Thánh Maria của núi Camêlô” chỉ đơn sơ là Đức Mẹ như thấy trong bối cảnh của Tin Mừng, là Đức Trinh Nữ Maria rất trong trắng, Đấng tiếp nhận lời Chúa, và với tiếng ”xin vâng” của Người đã trở thành Mẹ của Con Thiên Chúa nhập thể làm người.

Không cần nhấn mạnh nhiều qúa, chúng ta có thể nói rằng các ”tu huynh Camêlô” nhìn Đức Maria thành Nagiarét, ”Nữ tỳ của Chúa”, như là Đấng gợi hứng, hướng dẫn, là chủ cuộc sống của họ, tập trung nơi việc giữ gìn, chiêm niệm lời Chúa. Chính vì thế các tu sĩ Camêlô cảm nghiệm Đức Maria như vừa là Mẹ vừa là Chị trên đường thiêng liêng, trong một bầu khí thân tình quy hướng về việc bước theo Mẹ và sống tràn đầy cuộc sống hướng thần ”trong việc phụng sự Chúa Kitô”, trong một bầu khí đơn sơ và khổ hạnh. Đó là điều được diễn tả trong ”Quy luật sống”, mà ngay từ thế kỷ XIV các tác giả của Dòng đã mau chóng trông thấy nhập thể nơi Mẹ Maria.

Trong các thánh truyện nảy sinh sau đó, có một vài truyện đã hiện diện ngay trong các bút tích đầu tiên của dòng còn được truyền tụng cho tới chúng ta. Chúng cho thấy việc đọc hiểu trong nhãn quan thánh mẫu ”đám mây nhỏ của núi Carmel” do ngôn sứ Elia làm và đề nghị với các đồ đệ của mình. Chương 18 sách các Vua I kể rằng ngôn sứ Elia mời vua Akháp lên ăn uống vì ông nghe có tiếng mưa rào. Trong khi nhà vua ăn uống, thì ngôn sứ Elia lên đỉnh núi Carmel, cúi xuống đất gục mặt vào hai đầu gối. Rồi ông bảo đứa tiểu đồng đi lên và nhìn về phía biển. Nó đi lên nhìn và nói không có gì cả. Lần thứ bẩy nó nói: ”Kìa, có một đám mây nhỏ bằng bàn tay người đang từ biển bốc lên. Ngôn sứ Elia nói: ”Con hãy lên thưa với vua Akháp thắng xe mà xuống kẻo bị kẹt mưa”. Lập tức trời kéo mây đen nghịt và nổi gió rồi trút mưa lớn. Vua Akháp cỡi xe đi Izreel. Tay Giavê đặt trên Elia; ông thắt lưng và chạy trước vua Akháp cho tới lúc vào Izreel” (1 V 18,41-46).

Đám mây nhỏ ấy của núi Carmel là dấu chỉ chấm dứt cuộc hạn hán kéo dài ba năm, được các tu sĩ Camelô coi như hình ảnh diễn tả Đức Maria, đem mưa đến cho thế giới sau thời hạn hán. Mưa ấy là ân sủng của Thiên Chúa chấm dứt thời gian khó khăn khô cằn cho dân Israel. Mưa ân sủng ấy là Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Thế, Nước và Bánh hằng sống Thiên Chúa ban cho nhân loại.

Rồi còn có truyện Đức Maria nhiều lần đến thăm cộng đoàn các tu sĩ Camêlô cùng với cha mẹ là thánh Gioakim và thánh Anna. Rồi việc sùng kính Đức Maria của các tu sĩ được coi là đã có từ thời xa xưa, hay ít nhất từ thời các tông đồ. Ngoài loại văn thể đạo đức đặc biệt của thời đó khiến nảy sinh ra các tác phẩm nghệ thuật, một cách tích cực các câu truyện thánh này diễn tả ý niệm sự thân tình theo tinh thần tin mừng đối với Mẹ Maria, Đấng đã tiếp nhận tu sĩ Camêlô vào ”nhà của Mẹ”, và trợ giúp tu sĩ sống dấn thân theo Chúa Cứu Thế duy nhất là Đức Giêsu Kitô Con Mẹ.

Linh Tiến Khải

IHOMTrong các lễ nhớ dành riêng cho Mẹ Maria liên quan tới lễ Đức Mẹ Lộ Đức, có lễ Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria.

Kiểu nói ”trái tim vô nhiễm” mới có sau này, và trở thành thông dụng sau khi Đức Giáo Hoàng Pio IX công bố tín lý Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội năm 1854. Trước đó có các kiểu nói thông dụng như ”trái tim rất thanh sạch”, hay ”trái tim rất vẹn tuyền”, hoặc ”trái tim rất thánh” Đức Mẹ Maria, hoặc các kiểu nói tương tự.

Nhưng nhầt là sau khi Đức Mẹ hiện ra tại Fatima bên Bồ Đào Nha năm 1917 với ba trẻ mục đồng Lucia, Phanxicô và Giacinta, và viêc phát hành các bút tích của chị Lucia, kiểu nói ”trái tim vô nhiễm nguyên tội” Mẹ Maria chiếm ưu thế trong thói quen của Giáo Hội và trong phụng vụ. Nó đạt tột đỉnh giữa các năm 1942-1952, vì ảnh hưởng của các biến cố tại Fatima đã xác định việc thánh hiến thế giới cho Trái tim vô nhiễm nguyên tội Đức Mẹ và nhiều cuộc thánh hiến từ phía các cơ cấu giáo hội, và đôi khi cả từ các tổ chức dân sự. Phong trào tôn sùng Trái Tim vô nhiễm nguyên tội Đức Mẹ đạt tột đỉnh vào năm 1944 với việc cử hành lễ kính trong toàn Giáo Hội Latinh. Các năm đó cũng là thời điểm lòng sùng kính Đức Mẹ nở hoa, và việc tôn sùng Trái Tim vô nhiễm Mẹ Maria đạt cường độ mạnh mẽ chưa từng thấy.

Tuy nhiên, rất tiếc các năm trước khi Công Đồng Chung Vaticăng II khai mạc, và nhất là thời gian hậu Công Đồng, lòng tôn sùng Trái Tim vô nhiễm nguyên tội Mẹ Maria gặp khủng hoảng, cũng giống như lòng tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu. Trong Thông điệp ”Haurietis aquas” ”Các con sẽ kín múc nước” về lòng tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu, công bố ngày 15 tháng 5 năm 1956, Đức Giáo Hoàng Pio XII đã viết rằng: ”Thật đáng than phiền rằng trong qúa khứ cũng như trong ngày nay, việc phụng tự rất cao qúy này đã không có được vinh dự và sự trân trọng nơi một số Kitô hữu, và đôi khi cả nơi một số người nói rẳng họ được linh hoạt bởi sự nồng nhiệt chân thành đối với các lợi ích của đạo công giáo và việc thánh hóa chính mình”.

Ngay trong năm 1956 Thông điệp đã duyệt xét các lý do qua đó, theo ý kiến của vài tác giả, việc tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu đã gặp khủng hoảng. Đối với họ việc tôn sùng Thánh Tâm là điều không thời sự và không thích hợp, là ”ít đáp ứng, nếu không nói là làm hại cho các nhu cầu tinh thần cấp thiết nhất của Giáo Hội và của nhân loại trong giờ phút hiện tại này”; là ”siêu tưới gội, vô ích và nguy hại” đặc biệt đối với những chiến sĩ của Nước Thiên Chúa, lo lắng thánh hiến điều tốt nhất trong các năng lực tinh thần của họ để gia tăng các thực hành và các việc đạo đức, mà họ coi là cần thiết hơn cho thời đại ngày nay”; là ”suy tàn và tình cảm”, nghĩa là ”một hình thức tôn sùng thấm nhuần tình cảm hơn là các tư tưởng cao qúy và các trìu mến, và vì thế phù hợp với phái nữ hơn là với các người có học thức”; là có dấu vết ”yếu đuối thụ động”, bởi vì họ cho rằng ”việc tôn sùng này qúa bị cột buộc vào các hành động hãm mình, đền tội và các nhân đức mang dấu vết thụ động, vì thiếu các hoa trái rõ ràng bề ngoài, và do đó ít thích hợp với việc củng cố tinh thần tu đức tân tiến, mà bổn phận hoạt động công khai phải có”.

Đây là các thành kiến đích thật được nuôi dưỡng bởi chủ thuyết duy tự nhiên và khuynh hướng tình cảm gia tăng. Để giải thích chúng một vài tác giả đã đưa ra các lý do sau đây. Chẳng hạn như sự không chính xác của nền thần học liên quan tới việc tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu; việc ”đền bù” bị hiểu sai và thực hành lại còn sai hơn nữa; tinh thần tu đức suy đồi được khích lệ trong một vài hiệp hội đạo đức; biểu tượng bị áp dụng lệch lạc và được giới thiệu như là một bức màn chắn giữa Chúa Kitô và tín hữu; một vài sự không hài hòa giữa các hình thái việc tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu và các hình thức sâu xa hơn của lòng đạo đức trong thời đại chúng ta; các hình thức được gợi hứng bởi giáo hội học, bởi giáo thuyết về thân mình mầu nhiệm, kinh nghiệm về cuộc sống của Thiên Thúa Ba Ngôi. Thế rồi còn có sự vỡ mộng và cụt hứng không thể biệm minh, nhưng thực sự đối với vài ”lời hứa” vén mở cho thấy chúng vô ích, khi nhằm bảo đảm cho các cá nhân và xã hội chống lại các tai ương: thí dụ như ”Ta sẽ thống trị bên Tây Ban Nha với nhiều tôn sùng hơn các nơi khác”; khuynh hướng tôn sùng ích kỷ và duy lợi ích xem ra xúi dục sự tôn sùng này, trong khi nó bị hiểu sai; nghệ thuật các ảnh tượng chưa gặp được các hình thái diễn tả giá trị, vì nó đã không thành công trong việc cống hiến nhiều hơn là vài kiểu mẫu gợi hứng mòn mỏi hay một sở thích gây chán nản. Và những nhận xét đại loại kéo dài vô tận, trong các nguyệt san đạo đức, trong các sách báo tôn giáo, các bài giảng vô vị và tuyệt đối, trái nghịch với các khuynh hướng tân tiến ngày càng đòi hỏi sự đơn sơ và chân thật.

Ở đây không phải là chỗ để bênh vực lòng sùng kính Trái Tim Đức Mẹ, cũng đã chịu cuộc khủng hoảng như lòng tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu, tuy trong các tỷ lệ ít hơn. Các phương thức giúp ra khỏi cuộc khủng hoảng này trước hết thuộc trật tự tổng quát, và cũng là những phương thức cho phép thoát khỏi cuộc khủng hoảng gọi là ”cuộc khủng hoảng thời hậu công đồng”. Tuy nhiên, không thể coi Công Đồng Chung Vaticăng II là nguyên do của cuộc khủng hoảng này. Nó đã chỉ là dịp, vì các văn bản giáo huấn tuyệt hảo của Công Đồng đã chỉ được đọc và áp dụng bởi một vài lãnh vực trong Giáo Hội. Nói cách khác, chính sự kiện đại đa số Kitô hữu đã không đọc, không hiểu biết, thấm nhuần, áp dụng và sống các giáo huấn của Công Đồng nên mới có các lệch lạc gây ra cuộc khủng hoảng đó.

Bởi vì, nếu thực sự Công Đồng Chung Vaticăng II đã hướng lòng đạo đức của tín hữu tới việc thờ phượng có tính cách phụng vụ, thì Công Đồng đã không hề lơ là trong việc nhắn nhủ họ về các cung cách sống đạo bình dân chân thực. Bằng chứng là số 67 Hiến chế về Giáo Hội viết rõ ràng như sau: ”Giáo Hội khuyến khích hết mọi con cái hãy nhiệt tâm phát huy lòng sùng kính Đức Nữ Trinh, nhất là trong phụng vụ, hãy coi trọng những việc thực hành và việc đạo đức nhằm suy tôn Mẹ và đã được Huấn Quyền Giáo Hội cổ võ qua các thế kỷ, cũng như hãy kính cẩn tuân giữ những quyết định của các thời đại trước liên quan đến việc tôn kính ảnh tượng Chúa Kitô, Đức Nữ Trinh và các Thánh.

Công Đồng cũng hết lòng khuyến khích các nhà thần học và những người rao giảng lời Chúa, khi xét đến phẩm giá phi thường của Mẹ Thiên Chúa, hãy cẩn thận tránh mọi tư tưởng phóng đại sai lầm, cũng như mọi tư tưởng hẹp hòi qúa đáng... nhưng hãy làm sáng tỏ đúng mức những vai trò và đặc ân của Đức Trinh Nữ; những chức vụ và đặc ân này luôn luôn quy hướng về Chúa Kitô là nguồn mạch toàn thể chân lý, thánh thiện và đạo đức. Họ phải cẩn thận tránh xa mọi lời nói hay việc làm có thể làm cho các anh em ly khai hay bất cứ ai khác hiểu sai giáo lý đích thực của Giáo Hội. Phần các tín hữu, hãy nhớ rằng, lòng tôn sùng chân chính không hệ tại tình cảm chóng qua và vô bổ, cũng không hệ tại một sự đễ tin phù phiếm, nhưng phát sinh từ một đức tin chân thật. Đức tin dẫn chúng ta đến chỗ nhìn nhận địa vị cao cả của Mẹ Thiên Chúa và thúc đẩy chúng ta lấy tình con thảo yêu mến và noi gương các nhân đức của Mẹ chúng ta” (LG 67).

Như thế, chúng ta phải công nhận rằng cần canh tân việc tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu và Trái Tim Đức Mẹ theo các tiêu chuẩn sau đây.

Thứ nhất, trở về với các nguồn mạch đích thật của việc tôn sùng là Thánh Kinh, Truyền Thống, Huấn Quyền và suy tư thần học được cập nhật. Dĩ nhiên, không thể bỏ qua vài ”nguồn mạch” có tính cách thần bí và đặc sủng, khi chúng chân thực như các mạc khải trong các lần Đức Mẹ hiện ra ở Helfta, Paray-le-Monial, Fatima vv... Tuy nhiên, các nguồn mạch có tính cách đặc sủng này phải được minh giải và đặt để dưới các nguồn mạch chính của lòng đạo đức Kitô.

Thứ hai, canh tân các thực hành ”cổ điển” sùng kính Trái Tim Mẹ Maria và các cơ cấu đã mất tính thời sự. Điều này đòi hỏi phải duyệt xét nền tảng phê bình lịch sử các ”lời hứa”, bằng cách nhận ra nơi chúng ý nghĩa sâu xa, mà chúng có trong lãnh vực thần học về ơn thánh, và tránh đừng để bị lôi kéo bởi cơ chế của các công thức.

Thứ ba, cần có giải thích thần học ý niệm nền tảng về việc đền tạ để thiết lập một mối dây sâu xa giữa các việc sùng kính này và các mầu nhiệm cao cả nhập thể và cứu chuộc như lời thánh Jean Eudes đã nói: ”Tôi muốn cho thấy một cách rõ ràng rằng việc tôn sùng này không phải là không có nền tảng cũng như lý do, mà nó dựa trên các nền tảng vững vàng và chắc chắn đến độ tất cả mọi quyền lực của trái đất và của hỏa ngục cũng không có khả năng phá hủy... và điều này để khơi dậy một sự trân qúy khác đối với việc tôn sùng Trái Tim rất thánh của Mẹ Thiên Chúa, như là việc tôn sùng rất vững chắc và rất có nền tảng...” (x. S. De Fiores, Maria presenza viva nel popolo di Dio, Roma 1980, 86-88).

Tóm lại, có thể nói lòng tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu và lòng sùng kính Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ Maria luôn đi song song với nhau. Bởi vì trong gia đình nhân loại đã không hề có hai trái tim nào và sẽ không bao giờ có hai trái tim nào khác đập cùng nhịp yêu thương cứu chuộc như Thánh Tâm Chúa Giêsu và Trái Tim vô nhiễm nguyên tội Mẹ Maria. Phúc cho các Kitô hữu nào có lòng yêu mến và tôn sùng Hai Trái Tim Cực Thánh ấy, vì Chúa Giêsu Kitô và Mẹ Maria sẽ đặc biệt che chở và không bao giờ để cho họ bị hư mất đời đời.

Linh Tiến Khải

OLPHĐức Maria là Mẹ và là thầy dạy đức tin

Lạy Mẹ Maria, Đấng bầu cử cho chúng con, chúng con xin chúc tụng Mẹ vì những hồng ân cao cả mà Thiên Chúa đã ban cho Mẹ. Xin Mẹ hãy đoái thương đến chúng con là những người con yếu đuối, tội lỗi. Xin Mẹ hãy dùng quyền năng cao cả và lòng yêu thương từ mẫu của Mẹ mà hoán cải tâm hồn chúng con, giúp chúng con biết quay về với Thiên Chúa, biết tin tưởng, cậy trông và phó thác như Mẹ.

Kính thưa cộng đoàn, một tuần lễ nữa lại trôi qua với biết bao niềm vui – nỗi buồn, thành công – thất bại, đoàn tụ – chia ly, đau khổ và hạnh phúc xảy ra trong cuộc sống của chúng ta. Hôm nay, chúng ta lại được họp mặt trong nơi Thánh Đường này để cùng hiệp lòng, hiệp ý với nhau và với Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Hằng Cứu Giúp, dâng lên Thiên Chúa lời ngợi khen, chúc tụng và cảm tạ vì biết bao hồng ân Thiên Chúa đã thương ban xuống trên cuộc đời và trong gia đình của chúng ta. Đồng thời cùng khẩn cầu lên Thiên Chúa, qua lời chuyển cầu của Mẹ Maria, những ước nguyện, những ưu tư, lo lắng, buồn sầu, đau khổ và thất vọng của mỗi người chúng ta. Vậy chúng ta hãy chạy đến bên Mẹ để nhờ Mẹ chuyển cầu cho chúng ta, như Mẹ đã kêu cầu khi tiệc cưới đã hết rượu...

Tin Mừng theo Thánh Gioan thuật lại cho chúng ta “Khi thấy thiếu rượu, thân mẫu Ðức Giêsu nói với Người: “Họ hết rượu rồi”. Ðức Giêsu đáp: “Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và con? Giờ của con chưa đến”. Thân mẫu Người nói với gia nhân: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo”, Đức Giêsu đã thực hiện phép lạ đầu tiên do lời khẩn nài của Đức Maria. Tại đây Mẹ Maria đã thể hiện hình ảnh của người phụ nữ rất nhạy cảm trước những khó khăn của con người, và là một người đầy lòng yêu thương khi đứng trước nỗi khốn quẫn của con cái mình. Những cử chỉ và hành động của Mẹ Maria trong buổi tiệc cưới hôm đó tuy nhẹ nhàng, âm thầm nhưng nó lại chất chứa cả một sự lo âu và quan tâm rất đặc biệt đối với đôi tân lang và nhà gia đình nhà tiệc. Mẹ đã thể hiện vai trò của một người quản lý âm thầm, lặng lẽ, sắp xếp và giải quyết những khó khăn cho đôi tân lang. Mẹ là người trung gian thầm kín đã đại diện cho đôi tân lang cũng như gia đình nhà tiệc đến với Đức Giêsu, để ngỏ lời với Ngài, và cầu xin Ngài.

Lạy Mẹ Maria, Đấng bầu cử cho chúng con, chúng con xin chúc tụng Mẹ vì những hồng ân cao cả mà Thiên Chúa đã ban cho Mẹ. Xin Mẹ hãy đoái thương đến chúng con là những người con yếu đuối, tội lỗi. Xin Mẹ hãy dùng quyền năng cao cả và lòng yêu thương từ mẫu của Mẹ mà hoán cải tâm hồn chúng con, giúp chúng con biết quay về với Thiên Chúa, biết tin tưởng, cậy trông và phó thác như Mẹ. Xin Mẹ hãy dẫn đưa chúng con đến với Đức Giêsu, con Mẹ để chúng con được kết hợp với Ngài, được sống trong tình yêu của Ngài, tình yêu mà Chúa Cha hằng mong ước nơi mỗi người chúng con. Amen.

Lạy Cha là Thiên Chúa toàn năng và đầy lòng thương xót, chúng con xin ngợi khen Cha vì Cha là Đấng Sáng Tạo và đầy quyền năng đã dựng nên loài người chúng con cùng sinh linh vạn vật. Chúng con xin chúc tụng và cảm tạ Cha vì tình yêu vô biên mà Cha đã dành cho chúng con qua Thánh Tử Giêsu, Con Chí Ai của Cha, để nhờ sự chết và sự phục sinh của Ngài chúng con được phục hồi ơn nghĩa tử, được khơi nguồn sự sống mới trong tình phụ tử với Cha, là Thiên Chúa của chúng con.

Lạy Cha, xin Cha đoái thương đến chúng con là những người con đang trên đường lữ hành, với biết bao gian nan, khốn khó, đau thương và cay đắng của cuộc đời. Xin Cha thêm sức, ban ơn và gìn giữ chúng con để cho dù cuộc đời chúng con có ra sao, có khốn khó và cay đắng đến đâu, chúng con vẫn tin tưởng, phó thác, trông cậy vào quyền năng và sự yêu thương của Cha. Hiệp cùng với Mẹ Maria chúng con cầu xin Cha nhờ Đức Giêsu Kitô Chúa chúng con. Amen.

Anphong Học

plumeria dewChúng ta không thể phủ nhận rằng cha mẹ chính là những người che chở, bảo vệ, người bạn tốt và người thầy thông thái của mỗi đứa con. Họ dành toàn bộ cuộc đời để nuôi dạy và giáo dục các con trở thành những người có ích.

Tuy nhiên, khi sự bảo vệ ấy vượt quá mức cần thiết, nó có thể phản tác dụng!

Đã đến lúc các bậc cha mẹ phải suy nghĩ một cách nghiêm túc để nhận ra một điều rằng họ có thể dạy con mình tập bò, tập đi... nhưng họ không thể quyết định được chúng sẽ đi như thế nào, đi đâu và làm gì. Suy cho cùng, mỗi người chúng ta là một cá thể, đều phải tự học hỏi, lựa chọn và rẽ theo con đường của riêng mình.

Bạn chỉ có thể cho trẻ ăn, còn việc nhai thức ăn thuộc về riêng trẻ. Đó là lý do tại sao mọi người vẫn hay nghĩ rằng sự bao bọc quá mức của cha mẹ sẽ tạo nên những đứa trẻ không thành công.

Dưới đây là những sai lầm mà hầu hết 90% các bậc phụ huynh đều mắc phải khiến con cái của họ không thể thành công.

1. Quá bao bọc trẻ

Đôi khi, cha mẹ lo lắng việc con cái mình phải đối mặt với thất bại đến nỗi mà họ không cho phép các con tự do khám phá và tìm hiểu những điều mới lạ. Họ không hiểu một định luật rằng thất bại cũng là một phần của cuộc sống. Nếu trẻ em không được tiếp xúc và khám phá những điều mới lạ, chúng sẽ học được những gì từ cuộc sống?

2. Liên tục khen ngợi trẻ

Đây là một trong những hành vi gây hại cho trẻ nhất mà không ít bậc phụ huynh mắc phải. Bạn không cần phải quá nghiêm khắc với con trẻ, đôi khi nên khen trẻ một vài câu. Song, điều đáng lưu ý là không nên liên tục khen ngợi trẻ. Điều này có thể khiến trẻ quen với việc được khen ngợi, tung hô và tạo ra những vấn đề trong cuộc sống cũng như trong công việc sau này.

3. Theo dõi trẻ quá gắt gao

Quan tâm con trẻ là điều hoàn toàn đúng, thậm chí là vô cùng quan trọng để đảm bảo rằng bạn luôn biết được con mình đang ở đâu và làm gì. Nhưng theo dõi và kiểm soát con cái một cách gắt gao thực sự không cần thiết. Điều này còn gây khó chịu cho con bạn. Bạn càng cố gắng theo dõi chúng, chúng càng trở nên bí mật. Đây cũng là lý do vì sao hầu hết trẻ em không chịu mở lòng tâm sự với cha mẹ.

4. Buộc trẻ phải che giấu cảm xúc

Hầu hết các bậc cha mẹ đều buộc con cái mình phải trở thành những đứa trẻ mạnh mẽ, điều này khiến cho trẻ luôn che giấu mọi cảm xúc. Chúng sẽ luôn tin rằng chỉ có những kẻ yếu đuối mới thể hiện cảm xúc và tình cảm.

5. Bón ăn cho trẻ

Hãy để trẻ tự xúc ăn, thay vì bón ăn cho trẻ! Đừng bày sẵn mọi thứ trước mặt chúng. Đến một thời điểm nhất định, bạn nên để các con mình tự chịu trách nhiệm trước cuộc đời của chúng.

6. Cố gắng bảo vệ trẻ khỏi những ảnh hưởng xấu

Dù muốn hay không, các bậc cha mẹ nên để con cái mình tự do lựa chọn và kết giao bạn bè. Thường thì cha mẹ luôn nghiêm khắc, không cho phép con trẻ kết bạn, bởi họ sợ con mình sẽ giao du với những người bạn xấu và học hỏi những thói xấu từ bạn bè.

Bạn không nên làm thế! Hãy để con bạn quyết định những người mà chúng muốn làm bạn, trách nhiệm của bạn chỉ là hướng dẫn chúng cách chọn bạn, cũng như cách phân biệt giữa những người bạn tốt và xấu.

7. Quá nghiêm khắc với trẻ

Bạn đang lo lắng cho tương lai và cuộc sống của các con sau này, nhưng đừng quá nghiêm khắc với trẻ. Sự nghiêm khắc chỉ càng khiến cho chúng che giấu mọi thứ với bạn và tạo ra khoảng cách giữa bạn và con.

8. Không làm đúng những gì đã dạy trẻ

Một số bậc cha mẹ dạy con cái họ phải đối xử tử tế với người khác, song chính họ lại cư xử thiếu văn hóa với những người xung quanh. Họ nói với các con rằng bạo lực không giải quyết được mọi vấn đề, nhưng thực tế kết quả họ lại chứng minh hoàn toàn ngược lại. Con trẻ sẽ học được những gì từ kiểu ‘nói một đằng, làm một nẻo’ của cha mẹ chúng?

Hãy chắc chắn rằng bạn làm đúng những gì bạn đã dạy các con mình!

Quảng cáo

Hạnh phúc không phụ thuộc quá nhiều vào hoàn cảnh bạn nhận được, mà ở cách bạn tư duy và suy nghĩ về nó.

Trong cuộc sống, có rất nhiều người đang phải đấu tranh để đối phó với hoàn cảnh bi thảm hoặc các sự kiện rắc rối, đau thương xảy ra với họ. Nhưng, cũng có không ít những cá nhân cố gắng để cảm thấy hạnh phúc ngay cả khi những điều tốt đẹp xảy đến với họ. Thật trớ trêu nhưng hoàn toàn là sự thật. Vì lý do này hay lý do khác, họ không thể cho phép bản thân mình được hạnh phúc .

Cho dù khi họ được thăng chức hay gặp được nhiều may mắn, họ đều không thể chấp nhận những niềm vui này. Trong đầu họ thường bật ra những câu hỏi như, "Tại sao mình không thể hạnh phúc ngay cả khi có được những gì bản thân muốn?".

Đó không phải là hoàn cảnh khiến họ không vui - mà là ở trong chính suy nghĩ của họ. Những lối suy nghĩ này khiến họ không thể tận hưởng trọn vẹn niềm vui của chính mình.

1. Bất cứ khi nào có điều tốt xảy ra, điều tồi tệ có thể xảy ra ngay sau đó

Bạn luôn lo lắng mình sẽ bị một chiếc xe bus đụng trúng bất cứ lúc nào khi đi trên đường? Bạn sẽ không thể vui chơi thả ga và tận hưởng hạnh phúc khi tâm trí luôn chờ đợi một điều tồi tệ như vậy xảy ra.

Nhiều người khăng khăng rằng sẽ không thể có những điều tốt đẹp nếu điều xấu không xảy ra. Chờ đợi một điều xấu xảy ra sẽ khiến tâm trạng bạn luôn bị kích động lo lắng. Nhưng nhiều người vẫn luôn sẵn sàng chuẩn bị tâm lý chờ đợi một điều xấu xảy ra với họ bất cứ lúc nào, và do đó họ sẽ không thể vui vẻ ngay cả khi điều tốt đẹp xảy đến.

2. Tôi không xứng đáng với nó

Thật khó để ăn mừng và hưởng thụ thành công nếu bạn cảm thấy bản thân không xứng đáng với thành tích mình đạt được. Có lẽ, bạn được thừa hưởng một số tiền từ người khác hoặc có thể bạn đã bắt đầu một mối quan hệ mới quá mức tốt đẹp đối với bạn.

Hoặc có thể, bạn nghĩ rằng ông chủ của bạn đã đánh giá cao khả năng của bạn khi tạo cho bạn cơ hội thăng tiến. Bất kể vì lý do gì, việc bạn nghĩ rằng bạn không xứng đáng có được những điều đó chắc chắn sẽ ngăn bạn tận hưởng niềm vui.

3. Nó sẽ không kéo dài

Có càng nhiều, đến khi mất đi lại càng nhiều. Do vậy, liệu có phải bạn đang lo lắng rằng vận may tài chính của mình sắp hết hay sự thành công trong kinh doanh của bạn đang suy yếu dần? Việc cho rằng vận ​​may của bạn không thể kéo dài mãi sẽ khiến bạn lo lắng nhiều về tương lai mà không thể thưởng thức những điều tốt đẹp ở hiện tại.

Tư duy này có thể dễ dàng biến giấc mơ của bạn thành một cơn ác mộng.

4. Nó không tốt như tôi đã mong đợi

Nghĩ rằng bạn sẽ có nhiều bạn bè hơn khi bạn giảm cân, hoặc mong đợi mọi người sẽ tôn trọng bạn khi bạn được thăng chức, tất cả những điều này đều có thể khiến bạn thất vọng. Việc đạt được mục tiêu có thể không nhất thiết là phải giải quyết các vấn đề mà bạn muốn khắc phục.

Những kỳ vọng không thực tế về việc bạn sẽ cảm thấy thế nào khi một điều gì đó tốt đẹp xảy ra, có thể khiến bạn không vui vì nó sẽ khác với thực tế. Điều quan trọng là nên tận hưởng thành công của bạn đồng thời cũng nên nhận ra rằng các việc làm tích cực (như tập thể dục giảm cân, thăng chức) sẽ không giải quyết được mọi thứ.

5. Không biết đủ

Bất kể bạn được trao cho cái gì, hay bạn kiếm được những gì, nhiều người vẫn rơi vào cái bẫy tin rằng họ cần thêm một chút nữa.

"Nếu tôi có thêm một ít tiền, tôi có thể thoải mái thư giãn. Nếu tôi có thể tiến thêm một bậc nữa trong nấc thang sự nghiệp, tôi sẽ thành công,..." Tâm lý "không đủ" sẽ khiến bạn không thể tận hưởng khoảnh khắc tuyệt vời đó.

Hãy thay đổi suy nghĩ của bạn

Nếu bạn cảm thấy thật khó khăn để chấp nhận niềm vui khi có điều gì đó tốt đẹp xảy đến với bạn, hãy thay đổi suy nghĩ của bạn. Hít thở thật sâu và nhắc nhở bản thân rằng bạn rất hài lòng với những gì bạn đang có ngay bây giờ. Hãy suy nghĩ lạc quan và nhìn thấy mặt tốt trong tất cả mọi thứ. Bằng cách lựa chọn nhìn ra những khía cạnh tích cực của mọi việc, những giai điệu vui tươi của cuộc sống, nghĩ là bạn đang lựa chọn sức khỏe và hạnh phúc.

Mọi người đều phải đối mặt với cũng những khó khăn trong cuộc sống, nhưng trong khi nhiều người bi quan cho rằng tình trạng này xảy ra là do những sai lầm của họ, sự khó khăn sẽ kéo dài lâu, phá hủy mọi thứ họ đã có thì họ sẽ luôn chìm trong sự bức bối mà chính bản thân tạo nên, không thể tìm được hạnh phúc còn người lạc quan, những người luôn vui vẻ lại có xu hướng nghĩ theo cách ngược lại. Họ tin rằng mọi bất hạnh chỉ là tạm thời, họ cũng không hoàn toàn có lỗi trong việc tạo nên hoàn cảnh trên. Những người như vậy không bao giờ phải lo lắng về thất bại, họ cảm nhận chúng như những thách thức mà họ chỉ cần cố gắng nhiều hơn nữa để vượt qua, để hạnh phúc mỗi ngày.

Cuộc sống tươi đẹp lắm, vì vậy đừng bao giờ trì hoãn hạnh phúc của chính bạn. Hãy ăn mừng tất cả những thành tựu bạn đạt được, tận hưởng vui chơi trong những hoàn cảnh vui vẻ và đón nhận hạnh phúc bất cứ khi nào có thể, bạn nhé!

Quảng cáo


yellow orchidCuộc sống sẽ trở nên tươi đẹp hơn nếu chúng ta biết san sẻ những niềm vui và nỗi buồn cho nhau. Tình người sẽ thắm thiết hơn khi chúng ta biết cùng nhau chung tay xâp đắp cuộc sống thường ngày.

Là phận người giữa muôn vàn gánh nặng của cuộc sống, chúng ta không thể tránh khỏi những lúc mệt mỏi, chán chường. Tuy nhiên, cũng sẽ có những niềm vui to nhỏ, cách này hay cách khác đến với ta. Điều giá trị hơn cả là khi chúng ta biết chung hưởng niềm vui thì hạnh phúc sẽ được lớn lên, và khi chúng ta biết chia sẽ nỗi buồn thì đau khổ sẽ được giảm bớt.

Trong đời sống đức tin, chúng ta được chứng kiến cuộc gặp gỡ giữa Đức Maria và bà chị họ Elizabeth. Đó là một cuộc gặp gỡ lịch sử. Sự gặp gỡ ấy được thúc đẩy trong ân sủng của Thiên Chúa. Giây phút gặp gỡ đó là sự chia sẻ niềm vui trọng đại mà lòng thương của Thiên Chúa tuôn đổ trên hai chị em. Hơn thế nữa, đó còn là một sự giúp đỡ nhau trước những khó nhọc và gánh nặng sẽ đến trong thời kỳ mang thai của hai người.

Họ đến với nhau để san sẻ, họ đã đến với nhau bởi tình người, họ đến với nhau để niềm vui được nhân lên và họ đến với nhau nhờ tình Chúa.

Đức Maria lãnh nhận được một niềm vui cao trọng là cưu mang Con Một Thiên Chúa trong cung lòng của mình. Niềm vui cao trọng ấy đã không đưa Mẹ đến với thái độ tự cao, tự đại. Nó cũng không đưa Mẹ đến chỗ khép kín lòng mình để hưởng riêng hạnh phúc ấy. Nhưng ngay lập tức, Mẹ đã lên đường để chung chia niềm vui với người chị họ của mình là Elizabet. Niềm vui sâu thẳm đó đã không ngăn nổi bước chân yếu mền của người phụ nữ, trước vạn dặm xa xôi, đường xá cách trở để viếng thăm người chị họ của mình.

Mẹ đã lên đường không chỉ để đem niềm vui đến với Elizabet. Mẹ còn lên đường để đến giúp đỡ, san sẻ gánh nặng mà Elizabet sẽ đối diện khi đang mai thai đứa con đầu lòng ở tuổi già. Mẹ đã hình dung được sự cần giúp đỡ nơi người chị họ của mình. Mẹ thấu hiểu được sự quan trọng trong tương quan tình người giữa những lúc khó khăn. Mẹ đã đến ở với Elizabet, phục vụ chị trong lúc lòng mang dạ chửa. Mẹ đến để nơi đó, cả niềm vui lẫn khó khăn sẽ trở nên cảm xúc chung của cả hai chị em.

Niềm vui của hai người phụ nữ gặp nhau đã được nhân lên bội phần khi đứa con trong lòng Elizabet nhảy vui hớn hở. Khi niềm vui được sẽ chia thì cũng là lúc giá trị của nó được nâng lên. Niềm vui của họ đã lan tỏa cả đến những người con của họ, dù đang ở trong bào thai. Niềm vui của mẹ cũng sẽ là niềm vui của con. Niềm vui của em cũng sẽ là niềm vui của chị. Đó là khung cảnh diệu kỳ trong giây phút gặp gỡ của hai chị em. Hơn thế nữa, đó còn là giây phút tình Chúa hòa quyện với tình người trong sự sẽ chia và tương trợ lẫn nhau.

Tình người trong cuộc sống là sợi dây vô hình giúp chúng ta cảm thấy nhẹ gánh và dễ dàng thăng tiến hơn. Khi mà thế giới này đang đưa con người đến chỗ ích kỷ, hờ hững, thờ ơ với nhau thì mỗi chúng ta được mời gọi hãy mạnh dạn lên đường trao ban và chia sẽ cả niềm vui lẫn nỗi buồn của cuộc sống.

Hãy bước ra khỏi những giam hãm của sự nhỏ nhen, vụ lợi để gặp gỡ và tận hưởng cuộc sống. Dẫu là những cử chỉ nhỏ bé như những nụ cười, lời thăm hỏi, hay những cái bắt tay nhưng nó sẽ có giá trị to lớn, bởi chính những giây phút đó, ơn lành của Thiên Chúa đang được hiện diện giữa tình người thân thương ấy.

Chính chúng ta là tác nhân cho sự đau khổ lớn thêm hay nhẹ lại. Chính chúng ta là chủ nhân cho niềm vui bị thu hẹp hay được nhân lên. Những điều đó đôi khi không quá lớn như chúng ta nghĩ, nhưng chỉ đơn giản ngang qua những cử chỉ gặp gỡ, giúp đỡ, sẻ chia hằng ngày nơi cuộc sống với cha mẹ, vợ chồng, con cái, hay với tất cả mọi người. Đó là những điều thiết yếu làm cho cuộc sống này bớt phần nào gánh nặng. Hơn thế nữa, đó cũng là cách đem đến cho chúng ta một cuộc sống đậm đà hương vị giữa tình Chúa và tình người.

J.B Lê Đình Nam