yellow orchidCuộc sống sẽ trở nên tươi đẹp hơn nếu chúng ta biết san sẻ những niềm vui và nỗi buồn cho nhau. Tình người sẽ thắm thiết hơn khi chúng ta biết cùng nhau chung tay xâp đắp cuộc sống thường ngày.

Là phận người giữa muôn vàn gánh nặng của cuộc sống, chúng ta không thể tránh khỏi những lúc mệt mỏi, chán chường. Tuy nhiên, cũng sẽ có những niềm vui to nhỏ, cách này hay cách khác đến với ta. Điều giá trị hơn cả là khi chúng ta biết chung hưởng niềm vui thì hạnh phúc sẽ được lớn lên, và khi chúng ta biết chia sẽ nỗi buồn thì đau khổ sẽ được giảm bớt.

Trong đời sống đức tin, chúng ta được chứng kiến cuộc gặp gỡ giữa Đức Maria và bà chị họ Elizabeth. Đó là một cuộc gặp gỡ lịch sử. Sự gặp gỡ ấy được thúc đẩy trong ân sủng của Thiên Chúa. Giây phút gặp gỡ đó là sự chia sẻ niềm vui trọng đại mà lòng thương của Thiên Chúa tuôn đổ trên hai chị em. Hơn thế nữa, đó còn là một sự giúp đỡ nhau trước những khó nhọc và gánh nặng sẽ đến trong thời kỳ mang thai của hai người.

Họ đến với nhau để san sẻ, họ đã đến với nhau bởi tình người, họ đến với nhau để niềm vui được nhân lên và họ đến với nhau nhờ tình Chúa.

Đức Maria lãnh nhận được một niềm vui cao trọng là cưu mang Con Một Thiên Chúa trong cung lòng của mình. Niềm vui cao trọng ấy đã không đưa Mẹ đến với thái độ tự cao, tự đại. Nó cũng không đưa Mẹ đến chỗ khép kín lòng mình để hưởng riêng hạnh phúc ấy. Nhưng ngay lập tức, Mẹ đã lên đường để chung chia niềm vui với người chị họ của mình là Elizabet. Niềm vui sâu thẳm đó đã không ngăn nổi bước chân yếu mền của người phụ nữ, trước vạn dặm xa xôi, đường xá cách trở để viếng thăm người chị họ của mình.

Mẹ đã lên đường không chỉ để đem niềm vui đến với Elizabet. Mẹ còn lên đường để đến giúp đỡ, san sẻ gánh nặng mà Elizabet sẽ đối diện khi đang mai thai đứa con đầu lòng ở tuổi già. Mẹ đã hình dung được sự cần giúp đỡ nơi người chị họ của mình. Mẹ thấu hiểu được sự quan trọng trong tương quan tình người giữa những lúc khó khăn. Mẹ đã đến ở với Elizabet, phục vụ chị trong lúc lòng mang dạ chửa. Mẹ đến để nơi đó, cả niềm vui lẫn khó khăn sẽ trở nên cảm xúc chung của cả hai chị em.

Niềm vui của hai người phụ nữ gặp nhau đã được nhân lên bội phần khi đứa con trong lòng Elizabet nhảy vui hớn hở. Khi niềm vui được sẽ chia thì cũng là lúc giá trị của nó được nâng lên. Niềm vui của họ đã lan tỏa cả đến những người con của họ, dù đang ở trong bào thai. Niềm vui của mẹ cũng sẽ là niềm vui của con. Niềm vui của em cũng sẽ là niềm vui của chị. Đó là khung cảnh diệu kỳ trong giây phút gặp gỡ của hai chị em. Hơn thế nữa, đó còn là giây phút tình Chúa hòa quyện với tình người trong sự sẽ chia và tương trợ lẫn nhau.

Tình người trong cuộc sống là sợi dây vô hình giúp chúng ta cảm thấy nhẹ gánh và dễ dàng thăng tiến hơn. Khi mà thế giới này đang đưa con người đến chỗ ích kỷ, hờ hững, thờ ơ với nhau thì mỗi chúng ta được mời gọi hãy mạnh dạn lên đường trao ban và chia sẽ cả niềm vui lẫn nỗi buồn của cuộc sống.

Hãy bước ra khỏi những giam hãm của sự nhỏ nhen, vụ lợi để gặp gỡ và tận hưởng cuộc sống. Dẫu là những cử chỉ nhỏ bé như những nụ cười, lời thăm hỏi, hay những cái bắt tay nhưng nó sẽ có giá trị to lớn, bởi chính những giây phút đó, ơn lành của Thiên Chúa đang được hiện diện giữa tình người thân thương ấy.

Chính chúng ta là tác nhân cho sự đau khổ lớn thêm hay nhẹ lại. Chính chúng ta là chủ nhân cho niềm vui bị thu hẹp hay được nhân lên. Những điều đó đôi khi không quá lớn như chúng ta nghĩ, nhưng chỉ đơn giản ngang qua những cử chỉ gặp gỡ, giúp đỡ, sẻ chia hằng ngày nơi cuộc sống với cha mẹ, vợ chồng, con cái, hay với tất cả mọi người. Đó là những điều thiết yếu làm cho cuộc sống này bớt phần nào gánh nặng. Hơn thế nữa, đó cũng là cách đem đến cho chúng ta một cuộc sống đậm đà hương vị giữa tình Chúa và tình người.

J.B Lê Đình Nam

white orchidCó một bà mẹ bế đứa con trai vừa mới chào đời lên, bà nhè nhẹ đong đưa đôi tay và hát:

Thương con mẹ thương con
Yêu con mẹ yêu con
Yêu suốt một cuộc đời
Ðến ngày con lớn khôn...

Ðứa bé càng lúc càng lớn lên. Khi được hai tuổi, nó chạy chập chững bước thấp bước cao nô đùa quanh nhà, lôi sách vở trên kệ xuống để nghịch phá. Nó bày đủ thứ đồ chơi ra sàn nhà. Nó khóc. Nó la. Và bà mẹ đôi lúc phải thốt lên: “Cái thằng này, con làm mẹ điên mất!”.

Nhưng đêm đến, khi nó ngủ thật say, bà mẹ đến bên chiếc nôi trìu mến nhìn nó và khẽ hát:

Thương con mẹ thương con
Yêu con mẹ yêu con
Yêu suốt một cuộc đời
Đến ngày con lớn khôn...

Ngày qua ngày, thằng bé đến tuổi dậy thì. Nó dẫn về nhà những thằng bạn kì quặc. Nó ăn mặc những bộ đồ kì quặc. Nó nhún nhảy một cách kì quặc theo những bản nhạc cũng rất kì quặc. Và bà mẹ đôi lúc có cảm giác như thể đang ở trong sở thú.

Nhưng đêm đến, chờ nó ngủ thật say, bà mẹ nhẹ nhàng mở cửa phòng riêng của nó, bước đến hôn lên trán nó và khẽ hát:

Thương con mẹ thương con
Yêu con mẹ yêu con
Yêu suốt một cuộc đời
Ðến ngày con lớn khôn...

Và rồi đứa con lập gia đình và họa hoằn lắm mới về thăm bà. Nó còn phải bươn chải để chăm lo cho mái ấm riêng của nó. Thời gian trôi qua và lạnh lùng khắc những nếp nhăn lên khuôn mặt già nua ngày càng hốc hác của bà mẹ. Một hôm, thấy yếu trong người, bà gọi điện bảo đứa con về thăm. Nó về thăm bà và ngủ lại nhà một đêm. Tối đó, bà nằm trong giường và khẽ hát:

Thương con mẹ thương con
Yêu con mẹ yêu con

Nhưng cơn ho giật liên hồi, khiến bà không hát được trọn bài hát thuở nào. Ðêm đó, bà lặng lẽ qua đời.

Sau đám tang, đợi tối đến, khi đứa con của mình ngủ thật say, người đàn ông vừa mất mẹ bước đến hôn lên trán nó và khẽ hát:

Thương con mẹ thương con
Yêu con mẹ yêu con
Yêu suốt một cuộc đời
Ðến ngày con lớn khôn...
Hát xong, hắn lặng lẽ khóc một mình.

Thằng bé trong bài hát cũng gợi lên những hình ảnh rất đời thường mà chúng ta bắt gặp trong cuộc sống. Thằng bé vẫn ham chơi, thằng bé vẫn vô tư, bởi vì nó tin vào tình mẹ luôn dành trọn vẹn cho nó.

Hình ảnh rất đời thường như thế nói lên tình thương và lòng nhân ái của mẹ vẫn bao phủ trong cuộc đời những đứa con. Nhưng xem ra, những người con khi còn trong vòng tay yêu thương của mẹ lại chẳng cảm được vị ngọt của chuối ba hương, của xôi nếp mật mà tình mẹ mang đến cho chúng ta. Hình như những cái gì vuột khỏi tầm tay mới lớn, mới quý như người xưa vẫn nói: “Con cá sẩy là con cá to”. Hoặc như chú bé trong bài hát trên khi mất mẹ mới bồi hồi ngồi hát thầm trong nước mắt: “Thương con mẹ thương con”.

Trong đời sống thiêng liêng chúng ta cũng có một người Mẹ. Một người Mẹ luôn vỗ về ủi an chúng ta. Một người Mẹ hằng ngày vẫn trìu mến nhìn chúng ta và bảo “Thương con, mẹ thương con”. Nhất là những đứa con đang bị nhậm chìm trong khổ đau, đang chơi vơi giữa dòng đời đầy sóng gia nguy nan. Đó chính là Mẹ Maria. Mẹ Chúa Giê-su và cũng là Mẹ chúng ta. Tình thương của Mẹ dường như luôn kịp thời, kịp lúc để ra tay bảo vệ che chở con cái của Mẹ trước những sự dữ đang bủa vây.

Điệp khúc “thương con Mẹ thương con” đã được thể hiện rất nhiều lần trong lịch sử nhân loại. Mỗi khi con cái của Mẹ bế tắc trước khó khăn, trước sự dữ, thì Mẹ hiền Maria lại trìu mến thân thương gọi con đến bên Mẹ để được vỗ vễ chở che và được lắng nghe điệp khúc thật nồng ấm yêu thương “thương con Mẹ thương con”.

Điệp khúc “thương con Mẹ thương con” ta đã được nghe Mẹ nói lên tại ngôi làng bé nhỏ Fatima năm xưa. Đây là giai đoạn bi thương nhất của lịch sử nhân loại. Con cái Mẹ chìm ngập trong bể dâu. Chiến tranh loạn lạc khắp nơi gây nên biết bao cái chết đau thương, máu chảy thành sông. Xác chết xa trường gây nên ô nhiễm dịch bệnh tràn lan. Đói nghèo cũng gây nên không ít cái chết thương tâm. Nhân loại không tìm được tiếng nói chung để sống trong hòa bình. Trước bể dâu đó, Mẹ đã hiện ra và bảo con cái Mẹ hãy dâng thế giới cho Mẹ để Mẹ bao bọc chở che. Hãy sà vào lòng Mẹ để Mẹ vỗ về yêu thương. Để được vậy, con cái Mẹ chỉ cần cải thiện đời sống, siêng năng lần hạt Mân Côi, Tôn sùng Trái Tim Mẹ.

Ở Việt Nam chúng ta thời cấm đạo của Triều Nguyễn, Mẹ đã bao bọc con cái Mẹ tại linh địa La Vang. Và thời Văn Thân, Mẹ Maria đã hiện ra tại Trà Kiệu. Sự hiện diện của Mẹ là lời ru thật nồng ấm “thương con mẹ thương con” dành cho con cái Mẹ trên mọi miền đất nước và qua mọi thời đại.

Hôm nay chúng ta vui mừng kỷ niệm 100 năm Đức Mẹ hiện ra tại Fatima. Chúng ta hãy cám ơn tình thương của Mẹ đã dành cho thế giới. Mẹ đã đoái thương đến con dân của Mẹ và ra tay cứu giúp. Cám ơn Mẹ trong những lúc con cái Mẹ gặp khó khăn đều có Mẹ ra tay cứu giúp. Và hôm nay chúng ta tin rằng: Tình Mẹ mãi thương yêu chúng ta. Mẹ vẫn “Thương con Mẹ vẫn thương con” qua mọi thời gian.

Tin tưởng vào Mẹ chúng ta hãy dâng gia đình, dâng từng thành viên gia đình chúng ta cho Mẹ. Xin Mẹ hãy hát lên điệp khúc thương con Mẹ thương tới từng gia đình chúng ta. Xin cho chúng ta luôn tin tưởng phó thác nơi Mẹ. Xin cho cuộc đời chúng ta luôn là những người con biết lắng nghe và sống lời mẹ dạy qua việc siêng năng đọc kinh Mân Côi. Amen

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Me Maria childBiến cố truyền tin chỉ có Tin Mừng của Thánh Luca ghi lại. Đây là biến cố hết sức quan trọng trong lịch sử cứu độ. Biến cố này xảy ra trước lễ Giáng Sinh 9 tháng.

Sau khi nguyên tổ phạm tội, để lại hậu quả vô cùng nghiêm trọng cho nhân loại: đó là phải xa cách Chúa, phải đau khổ và phải chết. Nhưng Thiên Chúa đã không bỏ rơi con người. Ngài đã hứa ban Đấng Cứu Thế để cứu độ con người. Ngài nói với con rắn rằng: “Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó" (St 3,15).

Từ đó, cả nhân loại sống trong tối tăm mù mịt, trông chờ Thiên Chúa thực hiện lời hứa. Trông chờ trong niềm tin. Trông chờ trong hy vọng. Trông chờ trong cầu nguyện. Sự trông chờ đó được thể hiện qua lời cầu nguyện triền miên của dân Do Thái, được phụng vụ nhắc lại trong Mùa Vọng: “Trời cao hãy đổ sương xuống và ngàn mây hãy mưa đấng cứu đời” (Is 45,8). Thế rồi, niềm tin, niềm hy vọng của sự trông chờ được đáp trả trong biến cố Truyền Tin hôm nay.

Đức Maria là một thôn nữ nhà quê. Thời đó, Mẹ cũng sống như bao nhiêu người Do Thái khác. Mẹ cũng trông chờ Đấng Cứu Thế đến. Có lẽ cho tới khi Thiên Thần đến báo tin thì Mẹ vẫn chưa bao giờ nghĩ rằng, Mẹ sẽ cưu mang Đấng Cứu Thế. Nhưng Thiên Chúa đã chuẩn bị mọi sự nơi Mẹ. Ba tuổi, Mẹ đã dâng mình trong đền thờ. Lớn lên, Mẹ đã khấn giữ mình đồng trinh. Mẹ chuyên chăm suy niệm Lời Chúa. Mẹ luôn cầu nguyện. Chính khi Thiên Thần Gabriel đến cũng là lúc Mẹ đang chìm đắm trong kinh nguyện. Thế rồi, cuộc trò chuyện có một không hai trong lịch sử giữa Mẹ và Thiên Thần Gabriel bắt đầu. Cuộc trò chuyện lịch sử này cho chúng ta nhiều điều bất ngờ.

Mở đầu cuộc trò chuyện là việc Thiên Thần chào Đức Mẹ một cách cung kính rằng: “Kính chào Bà đầy ơn phước, Thiên Chúa ở cùng Bà, Bà được chúc phúc giữa các người phụ nữ” (Lc 1,28). Lời chào này được Giáo hội đưa vào đoạn đầu của Kinh Kính Mừng. Giáo hội cũng giữa vào lời chào này để giải thích về ơn Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ. Bởi vì, Mẹ đầy tràn ơn phúc, đầy tràn Chúa, tội lỗi không có thể len lỏi vào. Rồi Thiên thần còn cho biết “Mẹ có phúc hơn các người phụ nữ.” Bởi vì Mẹ được làm mẹ Thiên Chúa và Mẹ được Thiên Chúa ban cho nhiều đặc ân đặc biệt khác, hơn hẳn các phụ nữ trên trần gian này.

Tiếp đến, Thiên Thần cho Mẹ biết, Mẹ sẽ cưu mang và sinh hạ Đấng Cứu Thế. Thiên Thần nói: “Maria đừng sợ, vì đã được nghĩa với Chúa. Này Bà sẽ thụ thai, sinh một Con trai và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao trọng và được gọi là Con Ðấng Tối Cao. Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngôi báu Ðavít tổ phụ Người.
Người sẽ cai trị đời đời trong nhà Giacóp, và triều đại Người sẽ vô tận.” (Lc 1, 31-33). Đây là một tin vui. Tin vui cho Mẹ và cho cả nhân loại. Nhưng tin vui này đến với Mẹ quá bất ngờ. Bất ngờ vì Mẹ không bao giờ nghĩ tới. Bất ngờ vì Mẹ đã có chương trình riêng của Mẹ là “khấn giữ mình đồng trinh.” Đức Mẹ phân vân giữa việc giữ mình đồng trinh và làm Mẹ Thiên Chúa. Vì thế, Mẹ thưa lại với Thiên Thần rằng: “Việc đó xảy đến thế nào được, vì tôi không biết đến người nam?”(Lc 1,34).

Hiểu được ý Mẹ, Thiên Thần liền cho Mẹ biết, Mẹ cưu mang Đấng Cứu Thế là bởi quyền phép Chúa Thánh Thần. Thiên Thần nói: "Chúa Thánh Thần sẽ đến với Bà và uy quyền Ðấng Tối Cao sẽ bao trùm Bà. Vì thế Ðấng Bà sinh ra, sẽ là Ðấng Thánh và được gọi là Con Thiên Chúa”(Lc 1,35). Và để thuyết phục Mẹ, Thiên thần còn đưa ra một dẫn chứng cụ thể, đó là trường hợp của bà Ê-li-sa-bét. Thiên Thần cho biết: “Kìa bà Ê-li-sa-bét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng” (Lc 1,36). Thiên thần còn nhấn mạnh thêm: “Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được” (Lc 1, 37).

Sau khi Thiên thần đã cho biết ý định của Thiên Chúa và giải thích về những băn khoăn thắc mắc trong lòng Mẹ. Giờ đây, số phận nhân loại tùy thuộc vào hai tiếng “xin vâng” của Mẹ. Cho nên, hai tiếng xin vâng của Mẹ hết sức quan trong, liên quan đến vận mạng của cả nhân loại. Vì thế, khi nói về tầm quan trọng của hai tiếng xin vâng, Thánh Bênađô kêu lên rằng: "Ôi trinh nữ, Adam đang khóc lóc cầu khẩn Mẹ trả lời, Đavít cũng khẩn cầu, các tổ phụ cũng không ngớt nài xin. Câu trả lời ấy cả thế giới này đang phủ phục dưới chân Mẹ và chờ đợi nó. Bởi việc giải thoát cho những ai đang đau khổ, chuộc lại kẻ giam cầm, trả tự do cho người bị kết án và sau cùng là phần rỗi của mọi con cái Adam, của toàn thể dòng dõi Mẹ đều tùy thuộc vào lời thưa của Mẹ."

Đức Maria cũng biết rõ điều đó. Ở đời, người ta thường so sánh cái được cái mất. Xin vâng thì được gì, mất gì? Đối với Mẹ, từ một thiếu nữ bình thường, nay thưa xin vâng sẽ trở thành Mẹ Thiên Chúa. Từ một thiếu nữ chỉ lo biết việc cá nhân, gia đình, nay thưa xin vâng sẽ phải lo việc Chúa, cưu mang Chúa, sinh ra Chúa, nuôi nấng Chúa, đem Chúa đến với nhân loại. Hành trình phía trước quá vất vả, gian nan. Như vậy, nếu thưa “xin vâng” thì Đức Mẹ được Chúa, cứu được nhân loại, nhưng Đức Mẹ phải chấp nhận làm “đấng Đồng công cứu chuộc,” nghĩa là chấp nhận hy sinh đau khổ. Thế rồi, cuối cùng Đức Maria cũng mạnh dạn đưa qua quyết định của mình. Mẹ thưa với Thiên Thần rằng: “Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời Thiên Thần truyền” (Lc 1,38).

Ôi, vui quá! Hạnh phúc quá! Vì sau khi dứt lời thưa xin vâng của Đức Mẹ thì “chốc ấy Ngôi Thứ Hai Xuống Thế Làm Người.”
Nếu đọc tiếp Tin mừng chúng ta sẽ thấy, đi liền với hai tiếng xin vâng của Mẹ là những niềm vui và nỗi buồn, những hạnh phúc và đau khổ. Niềm vui, hạnh phúc vì có Chúa ở cùng Mẹ, Mẹ mang Chúa đến với mọi người như biến cố Mẹ đem Chúa đến với bà Ê-li-sa-bét và ông Gioan Tẩy Giả. Niềm vui của Mẹ được thể hiện qua bài Magnificat. Nhưng quan trọng hơn là Mẹ mang Chúa đến với cả nhân loại. Mẹ trở thành Đấng Đồng Công Cứu Chuộc. Thế nhưng, đi liền với niềm vui là một chuỗi ngày tháng năm chồng chất những đau khổ. Bảy sự thương khó của Mẹ nói lên tất cả. Mẹ đau khổ nhưng nhân loại sẽ được cứu độ.

Có thể nói, nhân loại không mất gì nhưng lại được rất nhiều nhờ hai tiếng “xin vâng” của Mẹ. Thánh Irênê nói: “Chính Ngài, nhờ vâng phục, đã trở nên nguyên nhân cứu rỗi cho mình và cho toàn thể nhân loại.”

Nhờ Mẹ, nên có Đấng Cứu Thế mà hàng ngàn năm nay nhân loại chờ đợi. Có Đấng Cứu Thế nên mới có ơn cứu chuộc. Có Đức Giêsu nên mới có Giáo Hội. Có
Giáo hội nên mới có linh mục. Có linh mục nên mới có các Bí tích và muôn vàn ân sủng khác. Ôi thật hạnh phúc với hai tiếng xin vâng của Mẹ. Mẹ hạnh phúc và nhân loại còn hạnh phúc hơn. Nhân loại biết ơn vì hai tiếng xin vâng của Mẹ. Nhân loại phải luôn cùng với Mẹ cất lên lời kinh Magnificat: “Linh hồn tôi ngợi khen
Đức Chúa và thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Đấng toàn năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả...” (Lc 1,46-55).
Mẹ Maria đã cưu mang Chúa sau lời thưa xin vâng. Mỗi người chúng ta cũng được cưu mang Chúa sau khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội, nhờ sức mạnh của Chúa Thánh Thần qua Bí tích Thêm Sức, và được nuôi dưỡng từ Bí tích Thánh Thể. Từ đó, Chúng ta cũng được Chúa mời gọi đáp lại hai tiếng “xin vâng” mỗi ngày.

Xin vâng theo lời thề hứa trong ngày lãnh nhận Bí tích Rửa Tội. Để rồi chúng ta được mời gọi làm mới lại tiếng xin vâng đó, bằng cách chấp nhận “xin vâng” trong mọi cảnh huống của cuộc đời: Có khi đó là lời mời gọi của Chúa qua Giáo hội; hay là lời mời gọi của Chúa qua cha mẹ, anh chị em, qua các chương trình bác ái từ thiện. Đôi khi đó lại là lời mời gọi chấp nhận một thất bại, một cơn bệnh, một sự mất mát khổ đau. Nhiều lúc chúng ta bắt gặp lời mời gọi sống và tuân giữ luật Chúa, luật Hội Thánh... Có thể nói, mọi biến cố xảy đến trong cuộc đời chúng ta như là những lời truyền tin mà Thiên Chúa gửi đến cho chúng ta. Như Đức Mẹ, chúng ta hãy khiêm tốn thưa “xin vâng”.

Nhưng xét mình lại, nhiều khi chúng ta bất tuân, chúng ta lỗi lời thề hứa ngày chịu Bí tích Rửa tội. Chúng ta không theo ý Chúa nhưng làm theo ý riêng mình. Chúng ta sống quá ích kỷ, chỉ biết đón Chúa về nhà và đóng chặt cửa lại, rồi để niềm vui của Chúa bị bóp nghẹt nơi cuộc sống của chúng ta chứ không đem Chúa đến với tha nhân. Vậy, xin Chúa tha thứ cho chúng ta. Xin Đức Mẹ cầu thay nguyện giúp cho chúng ta.

Lạy Mẹ Maria, Mẹ đã can đảm thưa hai tiếng “xin vâng” để cộng tác với Chúa trong việc cứu độ nhân loại. Xin dạy chúng con biết thưa xin vâng trong mọi cảnh huống của cuộc đời, để chúng con luôn trung thành với Chúa trong đức tin và đặc biệt từ đó chúng con biết đem Chúa đến với tha nhân. Amen.

Lm Anthony Trung Thành

rare flower

 

Bài giảng cảm động của Đức Thánh Cha: Nhà nào có Đức Mẹ, ma quỷ không vào

 

Lúc 9 sáng Chúa Nhật 28 tháng Giêng, Đức Thánh Cha Phanxicô đã cử hành thánh lễ Rước Ảnh Đức Mẹ Là Phần Rỗi của dân Rôma vừa được phục chế từ viện bảo tàng Vatican về lại Đền Thờ Đức Bà Cả ở Rôma.

Cùng đồng tế với Đức Thánh Cha có Đức Hồng Y Stanisław Ryłko, nguyên là chủ tịch Hội Đồng Giáo Hoàng về Giáo Dân, hiện là Giám Quản Đền Thờ Đức Bà Cả; và kinh sĩ đoàn của đền thờ.

Trong bài giảng thánh lễ, Đức Thánh Cha đã phân tích một kinh nguyện mà có lẽ người Công Giáo Việt Nam nào cũng biết, đó là kinh Trông Cậy.

Đức Thánh Cha nói:

Là dân Chúa trên đường lữ hành, chúng ta hiện diện nơi đây trong ngôi đền thờ của Mẹ. Sự hiện diện của Mẹ làm cho đền thờ này trở thành một mái gia đình cho những người con cái như chúng ta. Cùng với các thế hệ người dân Rôma, chúng ta coi ngôi nhà từ mẫu này là mái nhà của chúng ta, là nơi chúng ta tìm thấy sự tươi mát, an ủi, bảo vệ, và nương náu. Người Kitô hữu, ngay từ đầu, đã hiểu rằng trong những lúc khó khăn và thử thách, chúng ta phải dựa vào Mẹ, như được chỉ ra bởi kinh nguyện cùng Đức Mẹ cổ xưa nhất: “Chúng con trông cậy rất thánh Đức Mẹ Chúa Trời, xin chớ chê chớ bỏ lời chúng con nguyện trong cơn gian nan thiếu thốn, Đức Nữ đồng trinh, hiển vinh sáng láng. Hằng chữa chúng con cho khỏi mọi sự dữ.”

Chúng ta đang tìm kiếm nơi nương náu. Các Tổ Phụ trong đức tin đã dạy rằng trong những thời khắc hỗn loạn, chúng ta phải chạy đến dưới áo Mẹ Thiên Chúa. Khi những người bị bách hại và những ai trong cơn quẫn bách tìm nương náu nơi người phụ nữ cao trọng này: chiếc áo choàng bất khả xâm phạm của Mẹ sẽ được tung ra như một dấu chỉ tiếp nhận, và mang đến sự bảo vệ. Chúng ta thấy được điều này nơi Đức Mẹ, là người phụ nữ cao trọng nhất của nhân loại. Áo choàng của Mẹ luôn rộng mở để chào đón chúng ta và tập hợp chúng ta. Kitô hữu Đông phương nhắc nhở chúng ta về điều này, với nhiều ngày lễ tán dương sự bảo vệ của Mẹ Thiên Chúa, là Đấng được mô tả qua một hình ảnh rất đẹp trong đó Đức Mẹ với áo choàng của mình che chở cho đàn con cái Mẹ và cho cả thế giới. Ngay cả các tu sĩ thời xa xưa cũng đã khuyên chúng ta rằng, trong những lúc gian truân, hãy nấp dưới áo Mẹ Thiên Chúa và cầu khẩn cùng Mẹ - “Lạy Mẹ Thánh của Thiên Chúa” – chỉ cần lặp đi lặp lại lời nguyện này: “Lạy Mẹ Thánh của Thiên Chúa”, “Lạy Mẹ Thánh của Thiên Chúa” chỉ cần như thế chúng ta sẽ được chở che và giúp đỡ.

Sự khôn ngoan này, đến từ phương Đông xa xôi, cũng giúp chúng ta: Mẹ bảo vệ đức tin, giữ gìn các mối quan hệ, cứu giúp chúng ta trong những lúc phong ba bão táp và gìn giữ chúng ta khỏi mọi tà ác. Nhà nào có Đức Mẹ, ma quỷ không vào. Nơi nào có Đức Mẹ xáo trộn không chiếm được thế thượng phong, nỗi sợ hãi không thắng thế. Ai trong chúng ta không cần đến điều này, ai trong chúng ta chẳng có lúc âu lo xao xuyến? Phong ba giông bão trong ta thường xuyên biết chừng nào, biết bao những đợt sóng của các vấn nạn chồng chất lên nhau trong khi những cơn gió lo lắng không ngừng thổi tới! Đức Maria là chiếc tàu chắc chắn giữa cơn đại hồng thủy. Các ý tưởng hay công nghệ sẽ không đem lại cho chúng ta bình an và hy vọng, nhưng chính là khuôn mặt của Mẹ, với đôi tay dịu dàng vuốt ve cuộc sống, với lớp áo chở che chúng ta. Chúng ta hãy học cách tìm nương náu, chạy đến cùng Mẹ mỗi ngày.

Lời kinh được tiếp tục với lời thỉnh cầu: “Xin chớ chê chớ bỏ lời chúng con nguyện”. Khi chúng ta cầu xin Mẹ, Mẹ sẽ cầu bầu cùng Chúa cho chúng ta. Có một tước hiệu của Đức Mẹ rất hay trong tiếng Hy Lạp, đó là “Grigorusa”, nghĩa là “Mẹ vội vã cầu bầu”. Tính từ “vội vã” là tính từ được thánh Luca sử dụng trong Tin Mừng để nói Đức Maria đã lên đường đi thăm bà Elizabeth như thế nào: nhanh chóng, tức khắc! Mẹ nhanh chóng cầu bầu, không chút chậm trễ, như chúng ta đã nghe trong Tin Mừng, khi Mẹ lập tức nói với Chúa Giêsu về nhu cầu cụ thể của những người đó: “Họ hết rượu rồi” (Ga 2: 3), không còn gì nữa! Đây là điều xảy ra mỗi lần chúng ta cầu xin Mẹ: khi hy vọng của chúng ta úa tàn, nụ cười héo hắt trên môi, sức mạnh cạn kiệt, lương tâm xao xuyến mịt mù, những khi hết còn trông cậy, Mẹ tức khắc can thiệp. Chúng ta càng thiết tha kêu cầu, Mẹ càng can thiệp nhiều hơn. Mẹ chú ý tới những truân chuyên của chúng ta. Những hỗn loạn trong cuộc sống chúng ta gần gũi với trái tim nhạy cảm của Mẹ. Và Mẹ không bao giờ khinh thường lời cầu nguyện của chúng ta; Mẹ không để ai bị thất vọng. Mẹ là một người mẹ, Mẹ không bao giờ xấu hổ vì chúng ta, Mẹ chỉ chờ đợi để có thể giúp con mình.

Câu chuyện sau có thể giúp chúng ta hiểu điều này. Bên cạnh giường bệnh, một người mẹ chăm chú nhìn con trai, đau đớn sau một tai nạn. Người mẹ luôn luôn túc trực ở đó, cả ngày lẫn đêm. Một lần kia bà mẹ phàn nàn với linh mục, bà nói: “Chúa đã chẳng cho những người mẹ chúng tôi làm được một điều!”. “Điều gì?” vị linh mục hỏi lại. Người đàn bà trả lời “Thưa cha, đó là gánh lấy nỗi đau của lũ trẻ”. Đó là trái tim của người mẹ: bà không xấu hổ vì những vết thương, vì những yếu điểm của con mình, nhưng người mẹ luôn muốn chia sẻ cùng với con. Và Mẹ Thiên Chúa và cũng là Mẹ chúng ta biết làm thế nào gánh lấy những vết thương của chúng ta, an ủi, theo dõi, và chữa lành.

Lời kinh tiếp tục kêu cầu “Hằng chữa chúng con cho khỏi mọi sự dữ”. Chính Chúa biết rằng chúng ta cần nơi trú ẩn và sự bảo vệ giữa chập chùng những hiểm nguy. Vì thế, vào khoảnh khắc tột cùng, trên thập tự giá, Người nói với người môn đệ yêu dấu, và với tất cả các môn đệ: “Này là Mẹ con!” (Ga 19:27). Mẹ không phải là một lựa chọn, một điều tùy chọn, nhưng là giao ước của Chúa Kitô với chúng ta. Và chúng ta cần Mẹ như một người lữ hành cần được giải khát, như một em bé cần được cưu mang trong vòng tay mẹ. Thật là chí nguy cho đức tin khi chúng ta sống mà không có Mẹ, không được bảo vệ, khi chúng ta để mình bị cuốn hút bởi cuộc sống như những chiếc lá cuốn theo chiều gió. Chúa biết và khuyến khích chúng ta chào đón Mẹ. Đó không phải là thứ vẽ vời thêm về mặt tinh thần, nhưng là một nhu cầu của cuộc sống. Tình yêu không phải là những vần thơ, nhưng là biết làm thế nào để sống. Bởi vì không có Mẹ chúng ta không thể là những đứa con. Và chúng ta trước hết, là những đứa con, những đứa con được yêu, những người có Chúa là Cha và Mẹ Maria là Mẹ mình.

Công đồng Vatican II dạy rằng Đức Maria là “dấu chỉ hy vọng chắc chắn và sự an ủi cho dân lữ hành của Thiên Chúa” (Tông hiến Lumen Gentium – Ánh Sáng Muôn Dân, VIII, V). Đó là một dấu chỉ, một dấu chỉ Thiên Chúa đã đặt để cho chúng ta.

Nếu chúng ta không theo dấu chỉ đó, chúng ta lạc lối. Bởi vì có một biển báo về đời sống tinh thần, mà chúng ta phải theo. Nó chỉ cho chúng ta, những người “vẫn còn lang thang giữa chập chùng những hiểm nguy và gian nan”, thấy Mẹ, là Đấng đã đạt đến mục tiêu. Còn ai hay hơn Mẹ để đi cùng chúng ta trên cuộc hành trình? Chúng ta còn đang chờ đợi điều gì? Như môn đệ dưới cây thập tự chào đón Mẹ, “Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình” (Ga 19:27), chúng ta cũng vậy, từ ngôi nhà từ mẫu này chúng ta hãy rước Đức Maria về nhà chúng ta, trong trái tim chúng ta, trong cuộc sống của chúng ta. Chúng ta không thể là người dửng dưng hay tách biệt với Mẹ, nếu không chúng ta sẽ mất đi căn tính là con cái và bản sắc của mình như một dân tộc, và chúng ta sống một thứ Kitô Giáo bao gồm các ý tưởng, các chương trình, mà không có lòng tin, không có sự dịu dàng, không có con tim. Nhưng khi không có con tim thì không có tình yêu và đức tin trở thành một câu chuyện thần tiên về những thời xa xưa. Trái lại, Mẹ bảo vệ và chuẩn bị cho con cái mình. Mẹ yêu con cái mình, bảo vệ chúng, và thế giới của chúng. Hãy tiếp rước Mẹ hàng ngày trong cuộc sống của chúng ta, để Mẹ hiện diện thường xuyên trong gia đình của chúng ta, trong thiên đường an toàn của chúng ta. Hãy ủy thác cho Mẹ mỗi ngày. Chúng ta hãy kêu cầu Mẹ trong mọi lúc âu lo. Và đừng quên quay lại để cảm ơn Mẹ.

Giờ đây chúng ta hãy hướng về Mẹ, chúng ta hãy nhìn Mẹ một cách dịu dàng và kính chào Mẹ như các Kitô hữu ở Êphêsô đã từng kính chào Mẹ. Tất cả cùng nhau chúng ta hãy kêu cầu ba lần: “Lạy Mẹ Thánh của Thiên Chúa”, “Lạy Mẹ Thánh của Thiên Chúa”, “Lạy Mẹ Thánh của Thiên Chúa”

Kính thưa quý vị và anh chị em,

Bức ảnh Đức Mẹ Là Phần Rỗi của dân Rôma vừa được phục chế và hôm nay là ngày ra mắt công chúng. Bức tranh vẽ trên gỗ theo kiểu Byzantine này thường được đặt bên trong Đền Thờ Đức Bà Cả.

Đức Phanxicô đã rời Vatican vào ngay sáng hôm sau khi ngài được bầu làm Giáo Hoàng và cầu nguyện trước bức ảnh này, trong đó vẽ Đức Maria, mặc một chiếc áo choàng màu xanh, bồng Chúa Hài Nhi Giêsu, đang cầm trên tay Ngài một quyển sách trang sức bằng vàng. Trước và sau mỗi chuyến tông du nước ngoài, Đức Thánh Cha Phanxicô đều đến nhà thờ này để cầu nguyện trước bức ảnh và để lại một bó hoa hồng.

Người đứng đầu viện bảo tàng Vatican, là bà Barbara Jatta, cho biết cuộc phục chế đã khám phá ra những sắc màu “tinh tế” trong khuôn mặt của Đức Maria và Chúa Giêsu, và sự sáng chói của áo choàng vàng của Chúa Hài Nhi và của áo choàng màu xanh của Đức Maria.

Việc phục chế cũng giúp các học giả xác định niên đại của bức ảnh. Theo truyền thống, bức ảnh được tin là được tìm thấy ở Giêrusalem vào thế kỷ thứ 5 và được chính Thánh Luca vẽ. Trong một bài viết trên tờ Quan Sát Viên Rôma của Vatican hôm thứ Năm 25 tháng Giêng, bà Jatta nói rằng niên đại thật sự có thể là trong khoảng từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 13.

Ngoài việc làm sạch hình ảnh và sửa chữa các vấn đề có trong các lần phục hồi trước đó, các nhà phục chế đã thực hiện một khung mới nhẹ nhàng hơn và có tay cầm để bức ảnh có thể được vận chuyển dễ dàng và an toàn hơn cho các cử hành khác nhau ở các đền thờ ở Rôma nơi bức ảnh được mang đến trưng bày.

Kính thưa quý vị và anh chị em,

Đức Giáo Hoàng đầu tiên của Mỹ châu Latinh có lòng sùng kính Đức Mẹ cách riêng, và với tư cách là một giám mục và một Hồng Y, ngài thường đến Đền Thờ Đức Bà Cả để cầu nguyện trước bức ảnh Đức Mẹ Là Phần Rỗi Dân Rôma mỗi khi ngài về Rôma. Một bức ảnh Đức Mẹ khác mà ngài cũng mến mộ là bức “Mary Undoer of Knots” - Đức Mẹ Tháo Gỡ Nút Thắt, mà ngài nhìn thấy đầu tiên trong một nhà thờ vùng Bavarian khi ngài theo học ở Đức vào những năm 1980.

VietCatholic Network

Me Maria 7"Đó là ánh sáng soi đường cho dân ngoại,là vinh quang của Ít-ra-en Dân Ngài.

Nếu như trong lễ Hiển Linh chúng ta cử hành việc Đức Giêsu tỏ mình ra cho các Đạo sĩ, là Dân ngoại, thì hôm nay khi được dâng trong Đền Thờ, Ngài đã tỏ mình ra cho chính dân tộc của Ngài.

Lễ Nến được mừng vào ngày thứ 40 sau lễ Giáng Sinh, kết thúc những ngày lễ trọng mừng việc Thiên Chúa tỏ mình ra cho con người nơi Ngôi Lời mặc lấy xác phàm. Lễ này còn có tên gọi là lễ Đức Maria được thanh tẩy theo Luật Môsê hay lễ Dâng Chúa trong Đền Thờ.

Sở dĩ có ngày lễ này là vì theo Luật Môsê quy định: Thứ nhất, các trẻ sơ sinh, trong thời gian Luật định, phải mang lên Đền Thờ dâng cho Thiên Chúa. Thứ hai, người phụ nữ sau khi sinh con (nếu là con trai) thì sau 40 ngày phải lên Đền Thờ để được thanh tẩy. Vì thời đó người ta cho rằng khi sinh con, người phụ nữ bị ô uế. Thứ ba, con đầu lòng là tài sản của Thiên Chúa. Vì thế có tục lệ dâng con và lễ vật cho Thiên Chúa để chuộc lại con.

Sau khi sinh Đức Giêsu được 40 ngày, Đức Maria và Thánh Giuse đã làm như Luật dạy. Thực ra, Đức Mẹ không cần phải làm nghi thức thanh tẩy, bởi vì Mẹ sinh con mà vẫn trọn đời trinh khiết, không một vết nhơ nào có thể chạm đến con người thánh thiện của Mẹ, nhưng Mẹ vẫn khiêm tốn thi hành những gì lề luật truyền dạy.

Tuy nhiên, sự xuất hiện của vị “sứ giả của giao ước” hôm nay có vẻ không giống như những gì mà ngôn sứ Malakhi đã loan báo. Bởi theo viễn tượng của vị ngôn sứ này, thì vị sứ giả của Thiên Chúa sẽ đến một cách bất ngờ để tái lập lại nền phụng tự của dân Thiên Chúa vốn đã trở nên lệch lạc bởi sự chểnh mảng của các tư tế cũng như sự thờ ơ của dân chúng: “Kìa, vị sứ giả của giao ước mà các ngươi đợi trông đang đến, - ĐỨC CHÚA các đạo binh phán. Ai chịu nổi ngày Người đến ? Ai đứng được khi Người xuất hiện ? Quả thật, Người như lửa của thợ luyện kim, như thuốc tẩy của thợ giặt. Người sẽ ngồi để luyện kim tẩy bạc; Người sẽ thanh tẩy con cái Lêvi và tinh luyện chúng như vàng, như bạc” (Ml 3,1-3).

Không riêng gì ngôn sứ Malakhi, mà ngay cả Gioan Tẩy Giả cũng loan báo về Đấng Messia với những lời lẽ tương tự: “Tay Người cầm nia, Người sẽ rê sạch lúa trong sân : thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt đi." (Mt 3,12).

Trái ngược hẳn với những hình ảnh đáng kinh sợ mà các ngôn sứ đã loan báo, hôm nay, Chúa Giêsu - vị sứ giả của giao ước - lại bước vào đền thờ một cách âm thầm dưới hình hài của một trẻ thơ. Có lẽ sẽ chẳng có ai nhận ra Ngài cho đến khi cụ già Simêon – người được Thánh Thần linh hứng – loan báo rằng: Hài Nhi Giêsu mà ông đang bồng ẵm trên tay chính là “Ơn cứu độ mà Chúa đã dành sẵn cho muôn dân. Là Ánh sáng soi đường cho nhân loại và là vinh quang của Israel dân Ngài” (Lc 2,30-32)

Mừng lễ Đức Mẹ dâng Chúa Giêsu trong đền thờ hôm nay, Giáo Hội muốn giới thiệu cho chúng ta: Chúa Giêsu là ÁNH SÁNG từ trời cao, được đưa vào đền thờ, để thắp sáng cho trần gian. Nhưng tiếc rằng, ánh sáng đó đã được chiếu soi vào nhân loại hơn 2000 năm qua mà vẫn chưa được nhiều người đón nhận.

Ngày lãnh nhận Bí tích Rửa tội, chúng ta cũng được trao cho cây nến sáng với lời nhắc nhở rằng: Con hãy nhận lấy ánh sáng Chúa Kitô và hãy làm cho ánh sáng ấy cháy lên mãi... Vậy hôm nay, chúng ta hãy tự kiểm điểm lại xem, tôi và gia đình tôi đã làm gì để ánh sáng Chúa Kitô được thắp sáng nơi môi trường sống của mình ?

Việc Chúa Giêsu được dâng trong đền thánh là hình bóng hiến lễ Ngài sẽ dâng chính mình trên đồi Canvê. Thư Do Thái dạy rằng: Đức Kitô vừa là của lễ hoàn hảo đền tội chúng ta, vừa là tư tế dâng chính mình Ngài như của lễ. Mừng lễ hôm nay, chúng ta cũng được mời gọi hãy phó dâng bản thân cũng như mọi thành viên trong gia đình chúng ta cho Thiên Chúa để chính Ngài sẽ dẫn dắt chúng ta đi. Đó cũng là ý nghĩa cao đẹp mà nhiều hội dòng lựa chọn ngày lễ này làm lễ khấn dòng của mình. Để qua việc công khai đáp trả lại ba lời khuyên Phúc Âm, các tu sĩ cũng muốn trở nên ánh sáng cho trần gian và hiến dâng cuộc đời mình làm của lễ sống động cho Thiên Chúa và cho anh chị em mình.

Sau cùng, mỗi tín hữu cũng được mời gọi noi theo các nhân đức của Đức Mẹ và thánh Giuse bằng việc yêu mến và thực thi nghiêm chỉnh những lề luật của Thiên Chúa, cho dù đó là điều nhỏ bé và tầm thường nhất, để nhờ đó, chương trình và ý định của Thiên Chúa được thể hiện trong cuộc đời này.

Lạy Chúa Giêsu là ánh sáng đã đến trong trần gian. Như mặt trăng tiếp nhận ánh sáng từ mặt trời, xin cho chúng con cũng biết tiếp nhận ánh sáng từ nơi Chúa là mặt trời công chính, để trần gian luôn tràn ngập ánh sáng của tình yêu thương, sự cảm thông và tha thứ. Nhờ đó nơi gia đình, giáo họ, giáo xứ và cộng đoàn chúng con luôn được sống trong bình an và hạnh phúc. Amen.

Lm Jos. Nguyễn Văn Tuyên

Me Maria WhiteNgười còn đang nói với đám đông, thì có mẹ và anh em của Người đứng bên ngoài, tìm cách nói chuyện với Người. Có kẻ thưa Người rằng: "Thưa Thầy, có mẹ và anh em Thầy đang đứng ngoài kia, tìm cách nói chuyện với Thầy." Người bảo kẻ ấy rằng: "Ai là mẹ tôi? Ai là anh em tôi? " Rồi Người giơ tay chỉ các môn đệ và nói: "Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi. Vì phàm ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi."

Suy niệm

“Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi. Vì phàm ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi”.

Cuộc đời Đức Mẹ là một cuộc hành trình trong yêu thương. Hành trình đó được khởi đi từ sự ý thức về một Thiên Chúa yêu thương, để rồi qua đó, Mẹ cũng ý thức sống trọn vẹn cho tình yêu Thiên Chúa qua việc dâng mình thuộc trọn về Chúa. Và chính khi sống trong tình yêu thương đó, Mẹ đã sẵn sàng đáp lời “Xin vâng”, cũng như sẵn sàng chịu bao đau khổ, bao khó khăn trong trọn cuộc sống Mẹ. Nhìn vào cuộc đời Mẹ, mấy ai có thể nghĩ rằng một thiếu nữ mỏng dòn yếu đuối lại có thể vượt qua tất cả những điều đau khổ trong cuộc đời. Thế nhưng, chính khi Mẹ sống trong tình yêu của Thiên Chúa thì tất cả những đau khổ, những khó khăn trong cuộc đời chẳng có thể làm cho Mẹ suy sụp, chẳng thể làm cho Mẹ nản chí hay từ bỏ.

Khi sống trong ân sủng và tình yêu thương của Thiên Chúa, Mẹ đã biết sống theo những điều Thiên Chúa muốn, bởi vì điều đó không chỉ làm đẹp lòng Thiên Chúa nhưng còn mang lại niềm hạnh phúc lớn lao cho Mẹ nữa. Chính vì thế mà đoạn Tin Mừng hôm nay tưởng chừng như một lời nói vô tình của Chúa Giêsu đối với Mẹ, nhưng thật ra đó lại là một lời khen ngợi, một dấu chỉ của sự yêu thương mà Chúa Giê su đã dành cho Mẹ mình. Bởi Ngài biết rằng, Mẹ Maria không chỉ là một người mẹ của tình mẫu tử thông thường, nhưng vượt trên tất cả, Mẹ còn là một người mẹ sống trọn vẹn theo thánh ý Thiên Chúa, đó mới thực sự là điều quan trọng và là điều thiết yêu hơn cả. Cuộc đời Mẹ cho dù phải trải qua những bước thăng trầm sóng gió, nhưng Mẹ vẫn không hề chùn bước, vì Mẹ đã luôn “ghi nhớ và suy niệm trong lòng” nhằm vâng theo thánh ý Chúa và sống trọn vẹn thánh ý Chúa.

Ý thức về tình yêu Thiên Chúa là ý thức về những hồng ân cao cả của Ngài. Điều đó đã giúp Mẹ có đủ tình yêu thương để đồng hành với Chúa Giêsu trên đường khổ giá, có đủ sức mạnh để tha thứ cho những kẻ làm hại Con mình, có đủ nghị lực để vượt qua tất cả những sóng gió và có đủ can trường để yêu thương tất cả mọi người. Mẹ đã không dừng lại nơi một tình mẫu tử máu thịt, nhưng đã vượt lên trên tất cả để sống trọn vẹn tình mẫu tử thiêng liêng, tình mẫu tử gắn liền với thánh ý của Thiên Chúa. Chỉ có như thế, Mẹ mới có thể thấu hiểu được và sống cùng với những trái ý những thách đố trong cuộc đời Mẹ. Để rồi, khi về trời, Mẹ vẫn hiểu được con cái của Mẹ dưới trần này, và Mẹ vẫn mãi đồng hành với đoàn con trong bất kỳ hoàn cảnh trái ngang nào của cuộc sống.

Lạy Mẹ Maria, trong giây phút đầu tiên khi Mẹ dâng mình trong đền thờ, Mẹ đã ý thức và sống trong tình yêu thương của Thiên Chúa, để rồi suốt cuộc đời Mẹ là một bài ca tình yêu trong cả niềm vui lẫn khổ đau. Xin cho mỗi người chúng con, nhờ sự trợ giúp của Mẹ, biết sống trọn vẹn theo thánh ý của Thiên Chúa để qua đó chúng con được cảm nếm và sống thân tình trong tình yêu Thiên Chúa mỗi ngày. Amen.

Pet. Hải Văn SDB