Me Maria 6“Ngày hôm nay, chúng ta được gợi nhớ lại những lời chúc phúc mà bà Elizabet đã nói với Đức Trinh Nữ Maria: “Em thật có phúc giữa mọi người phụ nữ và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc! Bởi đâu tôi được thân mẫu Chúa đến viếng thăm tôi thế này?” (Lc 1,42-43)

Lời chúc phúc này tiếp nối lời chúc lành tư tế mà Thiên Chúa ban cho Mose để ông chuyển xuống cho Aaron và cho toàn thể dân chúng: “”Nguyện Ðức Chúa chúc lành và gìn giữ anh em! Nguyện Ðức Chúa tươi nét mặt nhìn đến anh em và dủ lòng thương anh em! Nguyện Ðức Chúa ghé mắt nhìn và ban bình an cho anh em! (Ds 6,24-26). Cử hành lễ Trọng mẹ Rất Thánh, Mẹ Thánh của Thiên Chúa, Giáo Hội nhắc nhớ chúng ta rằng Mẹ Maria là người đầu tiên đã nhận lãnh phúc lành này. Nơi mẹ, phúc lành ấy tìm thấy sự trọn vẹn: thực ra, không một thụ tạo nào đã từng chiêm ngắm dung nhan Thiên Chúa tỏa sáng trên mình như Mẹ, người đã trao ban một khuôn mặt nhân loại cho Ngôi Lời vĩnh hằng để tất cả chúng ta có thể chiêm ngắm Người.

Hơn cả việc chiêm ngắm dung nhan Thiên Chúa, chúng ta cũng có thể tán dương và chúc tụng Người, giống như các mục đồng năm xưa, những người đã rời Bê-lem với bài ca tạ ơn sau khi đã nhìn thấy Hài Nhi và người mẹ trẻ của Người ( x. Lc 2,16). Hai người đã luôn ở cùng nhau, cũng như họ đã ở với nhau trên đồi Can-vê, vì Đức Kitô và Mẹ Người không bao giờ có thể tách lìa nhau: có một tương quan rất mật thiết giữa họ, như tương quan giữa mỗi người con với mẹ mình vậy. Xác thịt của Đức Kitô – điểm mấu chốt cho ơn cứu độ của chúng ta (Tertulliano) – được kết dệt trong dạ của Đức Maria (x Tv 139,13). Tính không thể chia lìa này cũng rất rõ ràng ở việc Đức Maria, người đã được tiền chọn để trở nên Thân Mẫu của Đấng Cứu Chuộc, đã cùng chia sẻ cách mật thiết toàn bộ sứ mạng với Người, đã ở lại bên cạnh Con mình cho đến cùng trên đồi Can-vê.

Mẹ Maria luôn kết hiệp mật thiết với Đức Giêsu vì Mẹ đã có nơi Người tri thức của con tim, tri thức của đức tin, được nuôi dưỡng bằng kinh nghiệm mẫu tử mẹ và bằng tương quan chặt chẽ Con của mình. Rất Thánh Trinh Nữ là người nữ của đức tin, đấng đã dành chỗ cho Thiên Chúa trong lòng mình và trong các kế hoạch của mình; mẹ là tín hữu có khả năng nghiệm thấy nơi Con Mình “sự viên mãn của thời gian” đã đến, (Gl 4,4) nơi đó, Thiên Chúa, bằng việc chọn con đường khiêm nhường đi vào trong hiện hữu của nhân loại, đã đi vào cách cá vị trong lịch sử cứu độ. Đó là lý do tại sao ta chỉ có thể hiểu biết Đức Giêsu nhờ mẹ của Người.

Cũng tương tự như vậy, Đức Kitô và Giáo Hội cũng không thể tách lìa được, vì Giáo Hội và Mẹ Maria luôn đi cùng nhau và đây đích thực là mầu nhiệm nữ giới trong cộng đoàn Giáo Hội, và sẽ không thể hiểu được ơn cứu độ do Đức Giêsu thực hiện nếu không nhìn nhận tình mẫu tử của Giáo Hội. Tách Đức Giêsu khỏi Giáo Hội sẽ dẫn đến một kiểu “nhị nguyên lố bịch”, như Đức Chân Phước Phaolo VI viết (x. Evangelii Nuntiandi, 16). Không thể “yêu mến Đức Kitô nếu không yêu mến Giáo Hội, không thể nghe lời Đức Kitô nếu không nghe Giáo Hội, không thể thuộc về Đức Kitô nếu ở ngoài Giáo Hội”. Thực vậy, chính Giáo Hội là đại Gia Đình của Thiên Chúa, đã mang Đức Kitô đến cho chúng ta. Đức tin của chúng ta không phải là một học thuyết trừu tượng hay triết học, nhưng là một tương quan trọn vẹn, mang tính sống còn với một con người: Đức Giêsu Kitô, Con Một của Thiên Chúa, Đấng đã trở nên người phàm, bị giết chết và phục sinh của cõi chết của cứu độ chúng ta, và đang sống giữa chúng ta. Chúng ta có thể tìm gặp Người ở đâu? Chúng ta tìm gặp Người nơi Giáo Hội, nơi Mẹ Thánh Giáo Hội Phẩm Trật của chúng ta. Chính Giáo Hội ngày hôm nay nói với chúng ta rằng: “Đây là Chiên Thiên Chúa”; chính Giáo Hội rao giảng cho chúng ta về Người; chính nơi Giáo Hội mà Đức Giêsu tiếp tục thực thi việc ban ơn của Người là các bí tích.

Các hoạt động và sứ mạng của Giáo Hội là sự diễn tả tình mẫu tử của mình. Thực sự, Giáo Hội hệt như một người mẹ âu yếm gìn giữ Đức Giêsu và trao ban Người cho mọi người với niềm vui và lòng quảng đại. Không có sự sự tỏ lộ nào của Đức Kitô, dù là thần bí nhất, có thể tách ra khỏi xác thịt và máu huyết của Giáo Hội, khỏi sự cụ thể mang tính lịch sử của Thân Mình Đức Kitô. Không có Giáo Hội, Đức Giêsu Kitô chỉ dừng lại như một ý tưởng, một giáo huấn luân lý, một cảm giác. Không có Giáo Hội, tương quan giữa chúng ta với Đức Kitô chỉ là năng lực của trí tưởng tượng, những giải thích và tâm tính của chúng ta mà thôi.

Anh chị em thân mến! Đức Giêsu Kitô là phúc lành dành cho mọi người nam nữ, và cho toàn thể nhân loại. Trong việc trao ban Đức Giêsu, Giáo Hội mang đến cho chúng ta sự tròn đầy phúc lành của Thiên Chúa. Đây chính xác là sứ mạng của dân Thiên Chúa: lan truyền cho mọi dân phúc lành của Thiên Chúa đã nhập thể nơi Đức Giêsu Kitô. Và Mẹ Maria, người môn đệ đầu tiên và hoàn hảo nhất của Đức Giêsu, tín hữu đầu tiên và hoàn hảo nhất, kiểu mẫu của Giáo Hội hành hương, là người đã mở ra con đường hướng đến tình mẫu tử của Giáo Hội và không ngừng bảo tồn sứ mạng mẫu tử này cho toàn thể nhân loại. Chứng tá rõ ràng và từ mẫu của mẹ đã luôn đi cùng Giáo Hội ngày từ đầu. Mẹ, Mẹ Thiên Chúa, cũng là Mẹ của Giáo Hội, và qua Giáo Hội, cũng là mẹ của mọi người nam nữ và mọi dân tộc.

Nguyện xin Mẹ đầy yêu mến và từ ái mang đến cho chúng ta phép lành của Thiên Chúa dành cho toàn thể gia đình nhân loại. Cách đặc biệt, trong ngày Hòa Bình Thế Giới hôm nay, chúng ta hãy khẩn khoản xin Mẹ chuyển cầu để Chúa ban bình an cho những ngày này của chúng ta: bình an trong tâm hồn, bình an nơi các gia đình, hòa bình giữa các dân tộc. Cách cụ thể, năm nay, Sứ điệp cho Ngày Hòa Bình thế giới là “Không còn là nô lệ nữa, nhưng là anh chị em của nhau”. Tất cả chúng ta được mời gọi để trở nên tự do, trở thành những người con, và mỗi người, theo trách nhiệm của mình, được mời gọi để chống lại mọi hình thức nô lệ tân thời. Từ mọi dân tộc, văn hóa và tôn giáo, chúng ta hãy đóng góp sức mình. Ước gì Đấng đã trở nên tôi tớ phục vụ chúng ta, hướng dẫn và gìn giữ chúng ta để làm cho chúng ta trở thành anh chị em của nhau.

Chúng ta hãy nhìn lên Đức Maria, chiêm ngắm Mẹ Thánh của Thiên Chúa. Và tôi mạn phép mời gọi anh chị em hãy cùng chào Mẹ, như người dân thành Êphêsô can đảm đã làm, họ đã reo vang trước các mục tử khi được tháp nhập vào Giáo Hội: “Rất Thánh, Mẹ Thiên Chúa!” Lời chào dành cho Mẹ của chúng ta mới đẹp làm sao! Người ta có kể câu chuyện, tôi không biết là có thật không, rằng có một số người giữa đám dân, cầm cây gậy trong tay, chắc có lẽ để làm cho các Giám Mục hiểu rằng sẽ sụp đổ hết nếu họ không có lòng can đảm tuyên xưng Mẹ Maria là “Mẹ Thiên Chúa”. Tôi mời gọi tất cả anh chị em, dù không có gậy trong tay, hãy đứng lên và ba lần chào Mẹ, đứng lên, với lời chào của Giáo Hội tiên khởi: “Rất Thánh, Mẹ Thiên Chúa!”

Chuyển dịch từ bản Ý Ngữ: Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

rare flowerTừ tháng 6 đến tháng 11 năm 1830, liên tiếp trong nhiều lần, Đức Mẹ đã hiện ra cho một nữ tập sinh Dòng Nữ Tử Bác Ái Vinh Sơn, tên là Catherine Labouré tại Nguyện Đường của Nhà Dòng trên đường Du Bac, thủ đô Paris nước Pháp. Nơi đây, chị đã được thấy, được nói chuyện, và còn được phép sờ vào người Đức Mẹ.
Chuyện này xảy ra một cách âm thầm, đến độ trong 46 năm liền, chị đã được diễm phúc thấy Đức Mẹ đi lại phục vụ các bệnh nhân nghèo trong Chẩn Y Viện nhỏ bé của Nhà Dòng mà không ai biết chút gì. Các nữ tu sống bên cạnh chị vẫn cho rằng chị là một người khù khờ dốt nát, chuyên lo những công việc tầm thường và nặng nhọc trong nhà.
Ngoài một số rất ít các vị Bề Trên tại chỗ, không ai ngờ chị đã được Đức Mẹ hiện ra. Sau khi chị qua đời, nghe chuyện, họ đã dứt khoát không tin. Cho đến khi mộ của chị được mở ra, người ta kinh ngạc nhận ra đôi tay và đôi mắt của chị vẫn hồng hào nguyên vẹn.
Chị Catherine Labouré đã được Giáo Hội tôn phong Chân Phúc vào năm 1935, nghĩa là 2 năm sau khi chị Bernadette được phong Thánh. Đến năm 1947 thì chị Catherine cũng được phong Thánh. Người ta ước tính mỗi năm có gần 2 triệu người hành hương từ khắp nơi trên thế giới đến kính viếng và cầu nguyện tại ngôi Nhà Thờ bé nhỏ trên đường Du Bac.
Trong các lần hiện ra, Đức Mẹ đã trao cho chị sứ mạng phải quảng bá việc tôn kính Mẹ qua bức ảnh nói trên, thường được gọi là “Ảnh Đức Mẹ-Hay-Làm-Phép-Lạ”. Mẹ hứa: “Tất cả những ai mang ảnh này với tất cả lòng tín thác, sẽ lãnh được nhiều ơn trọng đại”.
Sau 2 năm do dự và giấu kín, cuối cùng thì cha giải tội của chị cùng với vị nữ tu Bề Trên đã quyết định nhờ một nghệ sĩ đúc lại bức ảnh theo mô tả chi tiết của chị. Không mấy chốc, “Ảnh Đức Mẹ-Hay-Làm-Phép-Lạ” được quảng bá rộng khắp. Ngày 11 tháng 2 năm 1858, khi được Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức ( Lourdes ), Thánh Nữ Bernadette cũng có đeo trên ngực mẫu ảnh này.
Chúng ta hãy cùng nhau chiêm ngắm mẫu ảnh đặc biệt này:
Có một lần vào ngày 27 tháng 11 năm 1830, chị đã thấy Đức Mẹ hiện ra với những luồng ánh sáng chói lòa phát xuất từ đôi tay và với quả địa cầu dưới chân có một con rắn bị Mẹ đạp lên, còn trên đầu Mẹ thì có một vầng hào quang được kết bằng 12 ngôi sao. Chi tiết này gợi lại thị kiến của Thánh Gioan: “Một người phụ nữ mình khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng, đầu đội triều thiên 12 ngôi sao” ( Kh 12, 1 ).
Các tia sáng được hiểu là dấu chỉ tình bằng hữu với Thiên Chúa và với mọi người. Đức Giêsu ban cho chúng ta niềm vui và lòng can đảm của Người để chúng ta có thể yêu thương nhiều hơn nữa. Con rắn là biểu tượng của sự xấu, của các khó khăn, của những hành động thiếu yêu thương, đã cản trở chúng ta sống bình an với chính mình và với tha nhân. Quả cầu là biểu hiện các nơi chốn khác nhau trên thế giới, nơi chúng ta được mời gọi sống tình yêu thương một cách chan hòa. Những ngôi sao biểu hiện niềm vui được làm Kitô hữu, dấu chứng tình bạn thân thiết với Đức Giêsu Kitô.
Chúng ta không được giữ riêng bảo vật này một cách ích kỷ, nhưng phải đem chia sẻ, tỏa sáng, để mọi người cũng có thể nhờ chúng ta mà khám phá ra mối tình tuyệt vời ấy. Tất cả như được đóng khung trong một vòng hình trái xoan với giòng chữ: “Lạy Mẹ Maria vô nhiễm nguyên tội, xin cầu cho chúng con là kẻ chạy đến cùng Mẹ”.
Bên dưới mẫu ảnh còn có hình hai quả tim, một của Đức Giêsu bị đâm thủng bởi một vòng gai, một của Đức Mẹ bị một lưỡi gươm xuyên thâu. Tất cả nói lên Tình Yêu cao sâu mà Thiên Chúa Cha đã dành cho chúng ta: Đức Giêsu Kitô đã hiến mạng sống mình vì yêu thương. Còn Đức Mẹ thì đã đau khổ vì yêu thương khi chứng kiến Con của Mẹ chết trên thập giá.
Trên mẫu ảnh còn có ghi một chữ M lớn, đan chéo trong một cây Thánh Giá. Đây sẽ là chữ M mà Đức Karol Wojtyla đã chọn làm huy hiệu khi được sắc phong làm Giám Mục, và cả sau này khi được bầu làm Giáo Hoàng. Không phải ngẫu nhiên mà trong chuyến viếng thăm nước Pháp năm 1980, Đức Gioan Phaolô đệ nhị đã bày tỏ ước muốn được kính viếng mộ Thánh Nữ Catherine Labouré nhân dịp kỷ niệm 150 năm ngày Đức Mẹ hiện ra với chị.
Một chi tiết khác nữa là màu xanh da trời trên áo choàng của Mẹ. Đúng ngày 15 tháng 8 năm 1955, cũng chính là ngày kính trọng thể Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, Hội Đồng Các Nước Âu Châu vừa được khai sinh với mục đích tiến tới một Liên Bang Âu Châu, lúc bấy giờ chỉ gồm có 12 quốc gia, đã quyết định chọn mẫu lá cờ có 12 ngôi sao trắng trên nền xanh da trời do một họa sĩ trẻ đưa ra. Đây không phải là chuyện ngẫu nhiên.
Vốn có lòng sùng kính Đức Mẹ đặc biệt, vợ chồng người họa sĩ này lần chuỗi Mai Khôi mỗi ngày, mỗi người đều đeo một mẫu “Ảnh Đức Mẹ-Hay-Làm-Phép-Lạ”. Và người họa sĩ đã tham gia cuộc thi vẽ mẫu lá cờ đang lúc đọc tiểu sử của chị Catherine Labouré. Anh kể lại: “Một cách vô thức, hình ảnh 12 ngôi sao trên nền xanh da trời đã đến với tôi một cách tự nhiên…”

Lm. Giuse Lê Quang Uy, DCCT

Me Maria VN 2Năm 1958, ba tôi làm việc tại bệnh viện Trung Ương thánh phố Huế. Mỗi tháng ông vẫn cùng các bác sĩ đi thanh tra các bệnh viện nhỏ ở các vùng lân cận. Hôm ấy, ông sửa soạn đi thăm bệnh viện Quảng Trị, cách thành phố Huế khoảng 65 cây số về phía Tây Bắc.
Tôi còn nhớ rõ sáng hôm ấy trời mưa lạnh. Những cơn mưa mà những ai đã từng ở Huế chắc chắn không thể nào quên được. Mưa tầm tã, rả rích kéo dài từ ngày này sang ngày khác tưởng chừng như vô tận. Ba tôi chuẩn bị lên đường. Chiếc xe chở ông cùng ba vị bác sĩ và một nhân viên bệnh viện đã đón ông ở ngoài cổng. Ba tôi mặc vào người chiếc áo jacket bằng da và dặn dò mẹ tôi một vài điều gì đó rồi vội vàng ra xe.

Bước xuống mấy bậc thềm ông gặp ngay cha Luận đang bước vào. Cha Cao Văn Luận cùng quê quán với cha tôi, Ngài rất gần gũi và thương yêu gia đình tôi. Một trong những mong mỏi của Ngài là được thấy gia đình tôi theo Ðạo.
Tuy rất kính và quý mến cha nhưng điều đó với ba mẹ tôi là một trở ngại lớn, không thể nào thực hiện được. Cả hai bên nội ngoại tôi không ai có Ðạo. Mẹ tôi đồng thời lại là một Phật Tử. Bà đã quy y, pháp danh Nguyên Khai. Bà cũng đã từng xây chùa cho làng ngoại tôi tại Huế. Mẹ tôi là một người đàn bà có học. Như đa số những bà mẹ Việt Nam khác rất hiền lành và nhẫn nhục. Cả cuộc đời hy sinh cho hạnh phúc của chồng con, nhưng trong vấn đề tín ngưỡng thì lại rất cương quyết, chẳng thể nào lay chuyển được. Ba tôi biết thế nên ông rất tôn trọng mẹ tôi mặc dầu ông rất kính mến cha Luận.

Cha Luận gặp ba tôi, Ngài bắt tay rất vui vẻ, Ngài đưa cho ba tôi một tấm ảnh và bảo: “Tôi mới đi kiệu ngoài Lavang về. Tôi kính cho ông một tấm ảnh của Mẹ Lavang. Ðức Mẹ đã làm nhiều phép lạ và rất linh thiêng. Ông hãy giữ lấy mà cầu nguyện.”
Ba tôi cười cười, nói cám ơn cha, rồi thuận tay ông nhét tấm ảnh vào túi trong của chiếc áo da. “Con phải đi ngay cha à, mọi người đang đợi con ở ngoài kia.” Vừa nói ba tôi vừa chào từ giã cha rồi ra xe.

Tôi nhìn theo chiếc xe chở ba tôi khuất dần, khuất dần sau màn mưa dày đặc…
Buổi chiều trong khi người nhà chuẩn bị bữa cơm, chúng tôi ngồi nghe mẹ kể chuyện. Mẹ đang kể một đoạn trong câu chuyện “những kẻ khốn cùng” (les misérables) của văn hào Victor Hugo thì chúng tôi nhận được hung tin. Chiếc xe chở ba tôi và bốn người nữa đã bị lật tại cầu Giồng Quảng Trị và chìm xuống sông. Tất cả đều tử nạn. Bệnh viện báo tin và yêu cầu gia đình ra ngay hiện trường để nhận xác đồng thời để tẩm liệm tại chỗ cho thân nhân… Trước biến cố bất ngờ đó, mẹ tôi như người bị sét đánh. Bà run rẩy rững sờ ôm lấy tôi. Làm sao tôi có thể diễn tả hết nỗi đau đớn trong lòng mẹ lúc ấy… (giờ đây sau biết bao lần chứng kiến những chia ly, tử biệt, tôi mới ngậm ngùi thấm thía được niềm đau đớn của những nỗi đợi chờ tuyệt vọng), chỉ biết là đã nhìn thấy mẹ đầm đìa nước mắt và cả chúng tôi nữa…

Ngoài kia dòng lệ của đất trời vẫn hững hờ rơi… Mẹ tôi và chị em tôi theo chiếc xe của bệnh viện ra Quảng Trị nhận xác cha. Ðến nơi, tại một trạm gác nhỏ nằm cuối chân cầu, xác của ba vị bác sĩ và nhân viên bệnh viện đã được vớt lên. Còn thi hài của ba tôi thì chưa tìm thấy. Người ta chưa vớt được ba tôi nhưng mọi người xác định là ông cũng cùng một số phận với những người đã tử nạn; nhất là ông đã chìm sâu dưới lòng nước quá lâu. Mẹ tôi mặt mày bạc nhược tái xanh, mắt đỏ hoe vì khóc, đứng ở một góc phòng chờ đợi…
Thân nhân của các nạn nhân đều đã tới, tiếng kêu gào khóc kể nghe rất não lòng. Tôi vừa buồn vừa sợ, mơ hồ cảm thấy một khúc quành nào đó thật ngặt nghèo đang chờ đợi gia đình tôi.
Em tôi vì còn nhỏ, có lẽ chưa hiểu lắm, nép trong lòng mẹ ngơ ngác nhìn quanh: “Ba đâu, ba đâu mẹ!” Mẹ tôi chưa kịp dỗ dành em thì bỗng có tiếng người la lớn: “Ðây rồi, vớt được xác sau cùng rồi!”

Là ba đó, mẹ tôi chạy nhào tới. Phải rồi, người ta đang khiêng ba tôi vào, đặt ba tôi nằm trên chiếc băng ca. Lại có tiếng người la lên: “Trời ơi! Ông ta hình như chưa chết. Còn thở. Hơi thở yếu lắm. Làm hô hấp nhân tạo ngay đi!”

Và ba tôi quả còn sống thật! Mẹ tôi quỳ xuống lạy trời lạy đất. Cám ơn Trời Phật đã cứu sống ba tôi. Nước mắt một lần nữa tuôn dầm dề trên má mẹ, nhưng lần này là những giòng nước mắt hạnh phúc không ngờ…

Chúng tôi quỳ chung quanh chiếc băng ca nơi ba tôi đang nằm. Ba tôi tỉnh lại hẳn. Ông nói bằng một giọng nói thật yếu ớt, câu nói đầu tiên mà tôi không bao giờ quên được: “Hãy xin cha rửa tội, rửa tội cho cả nhà, Ðức Mẹ Lavang đã cứu ba.”

Nói xong ông đưa tay vào trong túi áo da lục lọi kiếm tìm, và sau đó ông rút ra tấm ảnh Ðức Mẹ Lavang. Tấm tượng ảnh mà cha Luận đã cho ông trước chuyến đi định mệnh. Tấm ảnh đã ướt sũng và đậm màu vì thấm nước, nhưng hình Ðức Mẹ với chiếc áo choàng xanh vẫn còn in rõ nét.
Ba tôi nói tiếp: “Ðây chính Bà này đã cứu ba, Bà đã lôi ba, lúc ấy đang mắc kẹt trong xe, ra khỏi cửa xe. Bà đẩy ba nổi lên mặt nước và nói Ta là Ðức Mẹ Lavang, Ta đến cứu con.”

Tôi chợt nghĩ lại, nếu ngày hôm đó ba tôi không vội vàng ra đi, và có thời giờ để tiếp chuyện với cha Luận. Có lẽ bức tượng ảnh Ðức Mẹ Lavang đã bị quên trong một ngăn kéo nào đó cùng với sự hững hờ của ba mẹ tôi.
Sau biến cố đó, gia đình tôi gồm ba mẹ và 7 anh chị em đã rửa tội trong sự tự nguyện rất hoan hỷ của mẹ tôi. Ba vị linh mục thân thiết của gia đình tôi, cha Cao Văn Luận, cha Ngô Văn Trọng lúc bấy giờ là cha Chánh Xứ họ đạo Phanxicô, hay còn gọi là Nhà Thờ nhà nước, nơi mà gia đình tôi cư ngụ, và cha Vũ Minh Nghiễm, Dòng Chúa Cứu Thế, người đã dày công dạy giáo lý cho chúng tôi. Cả ba vị linh mục này đã dâng thánh lễ và ban phép rửa tội cho chúng tôi.
Theo lời xin của ba tôi, để cảm tạ ơn thánh của Ðức Mẹ, lễ rửa tội được tổ chức tại Thánh Ðường Ðức Mẹ Lavang Quảng Trị. Mẹ tôi vô cùng vui mừng hân hoan, và tin tưởng lần chuỗi mân côi cảm tạ ơn Ðức Mẹ mỗi ngày. Cho đến ngày nhắm mắt bà là một tín đồ sốt sắng, sùng kính Ðức Mẹ tuyệt đối. Ðây là những hình ảnh cuối đời của mẹ tôi.

Tôi còn nhớ rõ sau thời gian gia đình chịu phép rửa tội. Mẹ tôi đã chịu đựng nhiều lời ra tiếng vào của họ hàng và những người quen biết. Họ cho rằng gia đình tôi theo đạo là để mưu cầu cho một quyền lợi nào đó. Về phần chúng tôi khi đến trường cũng nghe những lời đàm tiếu của bạn bè. Mỗi lần than vãn với mẹ thì mẹ lại khuyên răn chúng tôi: “Ba là cột trụ và là nguồn sống của gia đình chúng ta. Vì thế dầu có chịu bao nhiêu thử thách, khó khăn cũng phải chấp nhận để cảm tạ ân sủng đó. Tình yêu luôn luôn có cái giá phải trả, và cái giá đó có nghĩa gì đâu với ân huệ mà Ðức Mẹ đã ban cho gia đình chúng ta.”

Mẹ tôi nói đúng, ơn lạ mà Mẹ Lavang đã ban là một biến cố lớn trong đời sống tâm linh của gia đình, cũng là một biến cố trong lịch sử gia tộc. Ba tôi năm nay đã gần 90. Ông vẫn còn kính tấm tượng ảnh năm xưa đã cứu ông trên bàn thờ. Tấm ảnh Ðức Mẹ ngày nay đã mờ nhạt theo thời gian, nhưng mỗi ngày ông đều đọc kinh lần hạt cảm tạ Ðức Mẹ.

Câu chuyện mầu nhiệm này đã được chúng tôi thường xuyên kể lại cho con cháu nghe, như là một câu chuyện thần thoại nhưng có thật. Xẩy đến từ một trong những phép lạ của Ðức Mẹ Lavang đối với gia đình tôi nói riêng và nhiều gia đình khác nói chung.

Ngày đại lễ hôm nay trời cũng mưa. Tôi lái xe trong cơn mưa như trút nước, Lòng hạnh phúc vô cùng vì tôi được có Chúa. Có ánh sáng niềm Tin của Ngài chiếu rọi tâm hồn tôi. Có Tình Yêu bao la rộng mở của Ðức Mẹ đã đến với gia đình tôi từ thuở tôi mới lên mười…
Tôi lắng nghe những lời huấn từ của Ðức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận. Bằng giọng nói rõ ràng trầm ấm, Ngài nhắc lại lịch sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam từ những ngày đầu tiên. Qua biết bao nhiêu thăng trầm gian khổ có máu, có nước mắt và ngày nay đã được thăng hoa với 117 Vị Thánh Tử Ðạo. Gia đình ngài cũng đã theo Chúa cách đây 300 năm, với những thử thách cùng với nhiều ân sủng của Chúa, của Ðức Mẹ, đặc biệt là Mẹ Lavang. Ngài cũng kể lại những phép lạ mà Ðức Mẹ đã ban, trong đó có phép lạ chữa lành bệnh cho cha cố Trọng, cha Linh Hướng của gia đình tôi.
Tôi tự cảm thấy gia đình mình may mắn, đã được hưởng một ân sủng quá đặc biệt đến từ Tình Yêu bao la không bờ bến của Ðức Mẹ.

Trong cái lạnh của mùa Ðông, lòng tôi bỗng nhiên ấm cúng. Tôi thấy tâm hồn như nở hoa. Ðóa hoa Yêu Thương trong vườn hoa rực rỡ của niềm Tin. Tôi hy vọng sẽ mãi mãi là đóa hoa đầy hương sắc, không bao giờ héo rũ úa tàn. Tôi thầm cám ơn Chúa, cám ơn Mẹ, cúi đầu để che dấu dòng lệ cảm xúc đang âm thầm rơi. Dòng lệ của hơn bốn mươi năm trước kể từ khi gia đình tôi được ơn lạ của Ðức Mẹ Lavang, trải qua biết bao sóng gió bể dâu… Có lúc đã ngưng đọng, có lúc tưởng chừng bị lãng quên, hôm nay lại từng giọt chảy dài… Những giọt lệ vui mừng. Những giọt lệ bồi hồi nhắc nhở tôi niềm hạnh phúc được nương náu trong Tình Yêu và Ân Sủng của Chúa, của Mẹ Maria.
California, Chúa Nhật ngày 22 tháng 2 năm 1998

Lê Tín Hương

dahlia flower"Phúc cho em là kẻ đã tin": bằng những lời này, Bà Isave đã xức dầu cho sự hiện diện của Đức Maria nơi nhà của bà. Những lời xuất phát từ lòng dạ của bà, từ bên trong; những lời âm vang tất cả những gì bà cảm nghiệm thấy từ cuộc thăm viếng của người chị em họ hàng: "Khi tôi vừa nghe thấy tiếng em chào thì thai nhi trong lòng tôi hân hoan nhẩy mừng. Phúc cho em là người đã tin tưởng".

Thiên Chúa thăm viếng chúng ta ở trong bụng dạ của một người phụ nữ, chuyển động bụng dạ của người phụ nữ kia bằng một bài ca ngợi khen chúc tụng, một bài ca hân hoan vui mừng. Cảnh tượng của bài Phúc Âm cho thấy tất cả những gì là sinh động của việc Thiên Chúa viếng thăm, đó là lúc Thiên Chúa đến gặp gỡ chúng ta thì Ngài tác động nội tâm của chúng ta, Ngài bắt đầu lay chuyển những gì chúng ta là, cho đến khi tất cả đời sống của chúng ta được biến đổi thành lời chúc tụng và ngợi khen. Khi Thiên Chúa viếng thăm chúng ta thì Ngài khiến chúng ta cảm thấy xốn sang bồn chồn, bằng một thứ xốn sang bồn chồn của những ai cảm thấy họ đã được mời gọi để loan báo những gì Ngài sống và là Đấng ở giữa dân Ngài. Đó là những gì chúng ta thấy nơi Đức Maria, người môn đệ tiên khởi và là vị thừa sai đầu tiên, một Hòm Bia mới của Giao Ước, Đấng không muốn lưu lại ở một nơi được giành cho mình trong các đền thờ của chúng ta, nhưng lên đường thăm viếng và hỗ trợ vào thời kỳ thai nhi Gioan đang được thai nghén bằng sự hiện diện của mình. Người đã làm như thế vào năm 1531, ở chỗ Người đã đến Tepeyac để phục vụ và hỗ trợ thành phần Dân đang được thai nghén đớn đau này, để trở thành Mẹ của họ và là Mẹ của tất cả mọi dân tộc.

Cùng với bà Isave, hôm nay đây, cả chúng ta nữa muốn xức dầu cho Người và chào Người bằng lời: "Phúc cho Người là Đấng đã tin", và tiếp tục tin tưởng "những gì Chúa đã phán cùng Người sẽ được nên trọn". Thế nên Đức Maria là biểu tượng của người môn đệ, của người nữ tin tưởng và nguyện cầu, vị biết cách để hỗ trợ và phấn khích đức tin của chúng ta và niềm hy vọng của chúng ta ở những giai đoạn đặc biệt chúng ta cần phải trải qua. Nơi Đức Maria, chúng ta thấy một phản ảnh trung thực không phải là một thứ đức tin thi ca ngọt ngào, mà là một đức tin mạnh mẽ, nhất là trong lúc những say mê ngọt ngào về các sự vật bị tan vỡ và lại xẩy ra khắp mọi nơi những thứ mâu thuẫn đầy xung khắc.

Chắc chắn chúng ta cần phải học từ đức tin mạnh mẽ và hữu ích ấy là một đức tin đã từng biểu hiệu và đang biểu hiệu Người Mẹ của chúng ta; cần phải học từ đức tin này làm sao để đi vào bên trong lịch sử mà làm muối và ánh sáng trong đời sống của chúng ta cũng như trong xã hội của chúng ta. Xã hội chúng ta đang xây đắp cho con cái của chúng ta càng ngày càng hiện lên những dấu hiệu chia rẽ và phân mảnh, đẩy nhiều con người vào hậu trường, nhất là những ai đang gặp khó khăn để có được những gì là tối thiểu cho một cuộc sống xứng đáng. Một xã hội muốn tỏ ra khoe khoang khoác lác về những tiến bộ khoa học và kỹ thuật mà lại mù quáng và vô cảm trước hằng ngàn ngàn những gương mặt trải dài dọc con đường tiến bộ ấy, bị loại trừ bởi cái kiêu hãnh mù quáng của một thiểu số. Một xã hội cuối cùng tiến đến chỗ thiết lập một thứ văn hóa vỡ mộng, một thứ văn hóa giải mê và một thứ văn hóa thua bại nơi nhiều người anh em của chúng ta, thậm chí sấu khổ nơi nhiều người khác vì họ cảm thấy những khó khăn họ cần phải đối diện để khỏi bị lạc lối.

Chúng ta, dù không nhận ra, dường như trở nên quen thuộc với lối sống trong môt xã hội ngờ vực, với tất cả những gì được xã hội này phỏng định cho hiện tại của chúng ta nhất là cho tương lai của chúng ta; nỗi ngờ vực dần dần phát sinh ra tình trạng ơ hờ lãnh đạm và phân tán.

Khó khăn biết bao để hãnh diện về cái xã hội phúc hạnh này của chúng ta khi chúng ta thấy rằng lục địa Mỹ Châu thân yêu của chúng ta đã trở nên quen thuộc với việc nhìn thấy hằng ngàn ngàn trẻ em và giới trẻ trên đường phố, ăn xin và nằm ngủ ở các trạm xe lửa, trong hầm xe điện ngầm hay bất cứ ở nơi nào có chỗ. Trẻ em và giới trẻ bị khai thác làm việc bất hợp pháp hay bị đẩy đi tìm kiếm một ít đồng bạc cắc ở các giao lộ, bằng cách lau chùi kính xe của chúng ta... và họ cảm thấy rằng họ không có chỗ trên 'chuyến xe lửa cuộc đời - train of life'. Biết bao nhiêu là gia đình đang hằn lên thương đau khi nhìn thấy con cái của mình trở thành nạn nhân của những tay buôn tử thần. Khó khăn biết bao khi thấy cách thức chúng ta bình thường hóa việc loại trừ đi những vị lão thành của chúng ta, mặc họ sống lẻ loi cô độc, chỉ vì họ không còn sản xuất được nữa, hay thấy, như các vị giám mục ở Aparecida quá biết, "tình trạng bấp bênh đang ảnh hưởng tới phẩm giá của nhiều phụ nữ. Một số trong họ, ngay từ hồi còn nhỏ hay thanh thiếu niên, đã chịu rất nhiều hình thức bạo lực cả trong lẫn ngoài nhà của họ". Chúng là những trường hợp có thể làm cho chúng ta thành bại liệt, có thể gây ngờ vực cho đức tin của chúng ta và nhất là cho niềm hy vọng cậy trông của chúng ta, cho cách nhìn về tương lai và đối diện với tương lai.

Trước tất cả những hoàn cảnh đó, chúng ta cần phải cùng với bà Isave nói rằng "Phúc cho em là người đã tin tưởng", và học từ đức tin mãnh liệt và hữu ích này là những gì đã trở thành biệu hiệu và đang là biểu hiệu cho Người Mẹ chúng ta.

Việc cử hành mừng Mẹ Maria, trước hết và trên hết, là việc tưởng nhớ đến Người Mẹ này, là nhớ rằng chúng ta không và sẽ không bao giờ là một thành phần dân mồ côi. Chúng ta có một Người Mẹ! Và đâu có người mẹ này thì ở đấy bao giờ cũng có sự hiện diện và hương vị gia đình. Đâu có người mẹ này thì anh em có thể đánh nhau nhưng cảm quan hiệp nhất bao giờ cũng sẽ thắng vượt. Đâu có người mẹ này thì cuộc tranh đấu cho tình huynh đệ sẽ không bao giờ bị thiếu vắng. Tôi luôn bị ấn tượng khi thấy, nơi các dân tộc khác nhau ở Châu Mỹ Latinh, những người mẹ tranh đấu này, những người mẹ, thường một mình, đảm đang nuôi con cái khôn lớn. Đó là Đức Maria với chúng ta, với con cái của Mẹ: một người nữ đang chiến đấu chống lại thuú xã hội của nỗi ngờ vực và mù tối, một xã hội thờ ơ lãnh đạm và phân tán; một người nữ đang chiến đấu để củng cố niềm vui Phúc Âm, đang chiến đấu để cống hiến "nhục thể" cho Phúc Âm.

Việc nhìn lên Đức Mẹ Guadalupe là để nhớ lại rằng cuộc viếng thăm của Chúa bao giờ cũng nhờ ở những ai làm cho Lời Ngài "hóa thành nhục thể", thành phần tìm cách hiện thực sự sống của Thiên Chúa nơi bản thân mình, trở thành những dấu hiệu sống động của lòng thương xót Ngài.

Việc cử hành tưởng nhớ Đức Maria cũng khẳng định trước tất cả những gì là khác biệt éo le rằng "nơi tâm can và đời sống của các dân tộc chúng ta vẫn đang có một cảm quan mãnh liệt về niềm hy vọng cậy trông, bất chấp các điều kiện sống dường như che khuất tất cả mọi niềm hy vọng cậy trông".

Mẹ Maria, vì Mẹ đã tin tưởng, đã mến yêu; vì Mẹ là nữ tỳ của Chúa và là tôi tớ của anh em Mẹ. Việc cử hành tưởng nhớ Mẹ Maria là cử hành ở chỗ chúng ta, như Mẹ, được mời gọi để ra đi gặp gỡ những người khác bằng cùng một cái nhìn, bằng cùng một lòng thương xót sâu xa, bằng các cử chỉ tương tự. Việc chiêm ngưỡng Mẹ đó là việc cảm thấy lời mời gọi mãnh liệt noi gương bắt chước đức tin của Mẹ. Sự hiện diện của Mẹ dẫn chúng ta đến chỗ hòa giải, cống hiến cho chúng ta sức mạnh để kiến tạo nên những mối liên hệ nơi mảnh đất Mỹ Châu Latinh diễm phúc của chúng ta, bằng cách "đồng thuận" với sự sống và "bất thuận" với tất cả những thứ lãnh đạm, loại trừ hay phủ nhận các dân tộc và con người. Chúng ta đừng sợ ra đi tìm kiếm người khác bằng cùng một ánh mắt. Một ánh mắt làm cho chúng ta thành anh em. Chúng ta làm thế là vì, như Juan Diego, chúng ta biết rằng ở đây có Mẹ của chúng ta, chúng ta biết rằng chúng ta đang nấp dưới bóng của Mẹ và sự bảo vệ bao che của Mẹ, nguồn mạch niềm vui của chúng ta, và chúng ta đang ở trong vòng tay của Mẹ.

ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ

blue lotusMẹ Maria đã trở thành một kiệt tác hoàn hảo dưới bàn tay kỳ diệu của Thiên Chúa. Nơi Mẹ hội tụ đầy đủ những gì là tốt đẹp của một con người. Giáo hội tôn vinh Mẹ là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội: Mẹ tinh tuyền, không vết tỳ ố, không vướng bận tội lỗi. Mẹ đơn sơ, khiêm nhường dù Mẹ rất cao trọng. Mẹ luôn tín thác và “xin vâng” trong mọi hoàn cảnh. Qua biến cố vác thập giá lên đồi Canve và chết đau đớn của Người Con mới thấy Mẹ là mẫu gương về sự chịu đựng và thinh lặng. Biến cố Phục Sinh một lần nữa cho thấy Mẹ luôn tin tưởng và hy vọng.

Chúa đã dựng nên Mẹ hình ảnh hoàn hảo, tuyệt trần không gì có thể sánh bằng. Chúa tạo cho Mẹ một vẻ đẹp cao sang thuần khiết. Chúa ban cho Mẹ một chỗ đứng cao trọng trong Hội thánh. Chúa tặng cho Mẹ những quyền năng cao cả. Bởi vậy, Mẹ là một chỗ dựa vững chắc cho những ai trông cậy. Mẹ là niềm an ủi cho những ai sầu khổ. Mẹ là nguồn hy vọng cho ai thất vọng, bần cùng. Mẹ là “cái máng” thông ban ơn Chúa đến cho mọi người. Mẹ là tấm gương phản chiếu đích thực tình thương của Chúa đối với nhân loại, là tấm gương soi cho tất cả những ai tin vào Thiên Chúa.

Hôm nay, Giáo hội mừng kính Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, chúng ta cùng hân hoan vui mừng dâng lên Thiên Chúa lời cảm tạ tri ân vì tình thương của Ngài dành cho chúng ta ngang qua Mẹ Maria. Chúa đã ban ta một người Mẹ tinh khiết, vẹn tuyền, một chứng nhân sống động về đức tin, đức cậy và lòng mến. Mẹ là một khuôn mẫu tuyệt hảo cho chúng ta noi theo.

Hướng về Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, xin Mẹ ban thêm sức mạnh để chúng con chống lại những cám dỗ, những lời mời gọi ngọt ngào của quyền lực, tránh xa những đam mê, dục vọng lôi kéo, từ bỏ những tham sân si đang dần đưa chúng con đến chỗ diệt vong. Để chúng con biết tìm đến Chúa, đến Mẹ là nguồn mạch của bình an, là cùng đích của cuộc sống.

Hướng về Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, trong xã hội đang sống theo lối ích kỷ, hưởng thụ, vô cảm với anh em đồng lọai, xin Mẹ cho con đôi chân khỏe mạnh để con bước đến với những người nghèo khổ, những mảnh đời bị bỏ rơi. Xin Mẹ cho con biết dang rộng cách tay để ẳm lấy tất cả mảnh đời bơ vơ, cô quạnh trong cuộc sống. Xin cho con biết mở rộng trái tim để trao ban tình yêu, sức sống cho mọi người xung quanh. Xin cho con tâm hồn quảng đại để tha thứ và yêu thương hết thảy mọi người. Nhờ đó, mọi người qua chúng con mà nhận biết Chúa và Mẹ là nguồn mạch của Tình Yêu.

Hướng về Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, Xin cho mỗi chúng con biết noi gương Mẹ, mau mắn đáp lời “xin vâng” như Mẹ trong mọi hoàn cảnh, phó thác như mẹ trong mọi khó khăn. Biết chịu đựng mọi thử thách, đau khổ trong đời và luôn tin tưởng, hy vọng vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Biết học nơi Mẹ một đời sống đơn sơ, khiêm nhường và trong sáng. Để mỗi ngày con nên hoàn thiện hơn như Cha chúng con trên trời là Đấng hoàn thiện.

Trên bước đường lữ thứ trần gian, còn đó những cám dỗ, mời mọc của sự dữ; còn đó những thách đố, khổ đau do bệnh tật, đói nghèo, do bất hòa chia rẽ; còn đó những vô cảm đối với Chúa và với nhau, tất cả những điều đó dễ làm trái tim và con người của ta trở nên hoen ố, trở thành những làn roi, thành những gai nhọn và đinh sắt đóng vào thân mình của Đức Kitô. Nhờ Mẹ, nhờ lời kinh Mân Côi, xin Chúa ban cho chúng ta sức mạnh để chống trả tội lỗi, cho chúng ta quả tim biết yêu thương đến vô tận.

Trước sự cao sang mà Chúa dành tặng cho Mẹ, chúng con thấy mình yếu đuối, mong manh làm sao…Chúng con - những phận người nhỏ bé, thấp hèn và tội lỗi thật không đáng để làm con Mẹ. Với tấm lòng con thảo, xin Mẹ thương xem chúng con trong tình mẫu tử, xin Mẹ đồng hành và hướng dẫn chúng con trên mọi nẻo đường để ngang qua cuộc sống nơi trần gian này, chúng con phải chiếu rõ nét hình ảnh của một Thiên Chúa đầy tình yêu và giàu lòng xót thương.

Lạy Mẹ Maria, Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội! Xin thương và giúp chúng con biết noi gương Mẹ, luôn “xin vâng” như Mẹ để tận hiến cuộc đời cho Chúa. Nhờ ơn Chúa qua lời chuyển cầu của Mẹ, chúng con dần trở thành kiệt tác trong tay của Thiên Chúa.

J.B Lê Đình Nam

Me Maria 5Tại hầu hết các nhà thờ ở Liên Xô mà tôi đã viếng thăm đều có những bức họa lớn hoặc nhỏ, rất đẹp về cảnh Đức Mẹ dâng mình vào đền thờ. Ở góc cao nhất của bức họa là cửa đền thờ Giêrusalem diễn tả cửa Trời. Thầy thượng tế mặc phẩm phục đứng đó nhìn xuống một cô bé 3 tuổi, đang lanh lẹn và đẹp đẽ leo hết 36 bậc thang đi vào đền thánh, trước sự ngưỡng mộ của hàng ngàn trinh nữ cầm đèn cháy sáng đứng hai bên. Cô bé ba tuổi đó chính là Maria, lanh lẹn tiến vào nhà Chúa, không thèm ngoái cổ lại nhìn thế gian, từ giã họ hàng…

Lễ Đức Mẹ dâng mình được cử hành tại Giêrusalem vào thế kỷ thứ VI. Một nhà thờ được xây dựng tại đó để kính nhớ mầu nhiệm này. Các nhà thờ chính thống cũng như Công giáo ở Đông phương đều đề cao việc Đức Mẹ dâng mình và mừng lễ này hết sức long trọng và hân hoan, không biết từ những ngày xa xôi nào. Chỉ biết đến thế kỷ XI, đoàn đại biểu của Giáo hội La Mã qua thăm Đông phương thấy vẻ đẹp của các bức họa và các cuộc lễ này đẹp đẽ phấn khởi như vậy, mới trở về quảng bá việc mừng lễ Đức Mẹ Dâng Mình cho đến ngày nay. Tuy nhiên lễ này có thời biến mất khỏi niên lịch, và tới thế kỷ XVI lễ này được mở rộng ra cho toàn thể Giáo hội hoàn vũ.

Như vậy, lễ này phát xuất từ Đông phương, miền truyền giáo của thánh Gioan Tông đồ và có thể là nơi xuất phát lòng tôn sùng Đức Mẹ sâu sắc hơn cả. Dĩ nhiên, câu chuyện Đức Mẹ dâng mình vào đền thờ không được viết trong Thánh Kinh. Phải đọc nó trong các sách bình dân không có phép của giáo quyền, gọi là các sách Ngụy thư. Sách Phúc Âm thứ nhất của thánh Giacôbê (protoevangelium of James) kể lại rằng bà Anna và ông Gioankim dâng Đức Maria cho Thiên Chúa tại đền thờ khi ngài mới ba tuổi. Đó là để thi hành lời bà Anna hứa khi bà còn chưa có con.

Nghĩa là không có gì chắc chắn Đức Maria đã dâng mình vào đền thờ khi lên ba. Nhưng cuộc đời của Đức Mẹ là cả một lễ dâng mình kéo dài kể từ lúc Mẹ được ơn Đầu thai Vô nhiễm Nguyên tội, rồi được sinh ra, và đỉnh cao như chúng ta sẽ nói là ở đồi Sọ, gần Thập giá Đức Giêsu.

Maria sinh ra được giáo dục trong lòng đạo đức của dân được tuyển chọn. Lớn lên, một trong những câu truyện đầu tiên cô được nghe và phải thuộc lòng, chính là câu truyện về cuộc đời của Abraham tổ phụ dân Chúa. Và Thánh Kinh kể Abraham là con người có đức tin, tin một mình Đức Chúa, tin hoàn toàn vào lời hứa và sự dẫn dắt của Người. Vì Đức Chúa, để gắn bó với Người, ông bỏ quê hương, bỏ gia tộc, bỏ mọi sự, đi theo Chúa. Không phải ông không mơ ước điều nọ điều kia. Ông đi theo Chúa vì Chúa hứa cho ông một giang sơn, một dòng dõi, một đời sống hạnh phúc bất tận. Dần dần ông thấy mình được những điều đó. Đặc biệt đến tuổi 100, ông đã được Chúa ban đứa con nối dòng là Isaac. Chúng ta cứ thử nghĩ xem Isaac đối với ông quí như thế nào. Đó là sự sống của ông, sự sống sẽ được nối dài trong bao ngàn thế hệ… Thế mà Chúa lại đòi ông đi sát tế Isaac. Lòng đau như cắt, ông xin vâng, dẫn Isaac lên tế đàn…

Câu truyện đó làm sao không làm cho Maria say mê sung sướng. Là thiếu nữ Sion tuyệt vời, là tiêu biểu của dòng giống được tuyển chọn, Maria phải yêu nước, yêu dân tộc mình, yêu tổ phụ của dân và do đó phải thích và thuộc những gì Kinh Thánh viết về Abraham. Hơn nữa, là một tác phẩm kỳ công của Thiên Chúa, câu truyện Abraham tin Chúa, yêu Chúa đến nỗi sẵn lòng hy sinh tất cả để tỏ lòng tin, cậy, mến, phải thu hút tình yêu của Maria. Maria muốn bắt chước tổ phụ của dòng dõi mình. Maria dâng trọn đời mình cho Chúa.

Chúng ta khẳng định được như vậy vì tất cả các nét mà các sách Tin Mừng vẽ lại cho chúng ta thấy tâm hồn của Maria. Chúng ta biết câu chuyện Truyền tin. Maria dâng mình phó thác cho Thiên Chúa quyết liệt thế nào trong hai tiếng Xin Vâng khiêm nhường. Cũng vì chỉ muốn đi theo Chúa, phục vụ Chúa, mà nghe tin Chúa làm việc lạ nơi bà chị họ Êlisabét, Maria đã tất tưởi lên đường, hạnh phúc nhảy các đồi cao, đến nhìn công việc của Chúa. Và tại đây, như bài Tin Mừng cho thấy, tâm hồn của Maria đã dạt dào cởi mở trong bài kinh Magnificat. Cứ đọc bài ca ấy đi, ai không thấy ngay một tâm hồn đẹp đẽ nhưng dâng hiến hoàn toàn cho công việc của Thiên Chúa. Lòng dâng hiến trọn vẹn sẽ đưa Maria không một phút nào không mật thiết kết hiệp với Đức Giêsu, đặc biệt trên con đường Thập giá. Và khi Phêrô và các môn đệ to mồm nhất, bỏ Chúa đau đớn và trơ trọi trên Thập giá, Mẹ Maria dũng cảm có mặt ở đó, để các vết thương trên thân thể Con trở thành những nhát gươm đâm nát trái tim Mẹ. Con dâng mình đau đớn thế nào cho Chúa Cha, Mẹ cũng dâng khổ đau dữ dằn như thế, để cùng Con đổ Máu đền tội cho trần gian và ban Nước ân sủng Thánh Thần cho mọi tín hữu. Đức tin cho chúng ta biết lễ dâng của Chúa và của Đức Mẹ tại đồi Sọ có giá trị như thế nào. Thánh Phaolô nói rõ trong bài thư hôm nay. Chúng ta vẫn tin như vậy. Tôi không cần nói thêm.

Tôi chỉ muốn nói điều này: Ơn Cứu độ, sự sống của Hội Thánh phát xuất từ lễ dâng trên núi Sọ. Đó là lễ dâng của Chúa Giêsu và của Đức Mẹ. Lễ dâng đó trọn vẹn vì đã chảy cho đến giọt máu cuối cùng… Nhưng đã khởi sự và đi con đường Thập giá hy sinh lâu rồi. Cũng như thư Hibá viết: Khi vào thế gian, Đức Kitô đã nói với Đức Chúa Cha: Này Con xin đến để làm theo ý Cha; thì khi cho chúng ta gặp Đức Mẹ lần đầu tiên, sách Tin Mừng cũng kể: Người nói hai chữ “Xin Vâng” để suốt đời sống theo ý Chúa.
Cha của chúng ta là Đức Giêsu, Mẹ của chúng ta là Đức Maria. Cả hai đã suốt đời Xin Vâng ý Cha trên trời nên mới có dòng dõi là nghĩa tử. Đó là Adong và Evà mới của nhân loại mới được Cứu độ, thay cho Adong và Evà cũ đã đưa loài người vào con đường tội lỗi lầm than vì bất tuân, vì không dâng hiến nhưng muốn sống cho mình.

Cha mẹ của chúng ta như vậy, chúng ta sẽ thế nào? Anh em linh mục thân mến, chúng ta hãy nhìn vào Đức Mẹ trong lễ dâng mình hôm nay, để dâng lại ý chí của chúng ta trong ngày chịu chức, là vâng phục Giám mục để thực sự là Tông đồ, tức là được sai đi như Chúa Con được Chúa Cha sai xuống trần gian thi hành chương trình Cứu độ Thương xót của Người.

Anh chị em nam nữ tu sĩ, hôm nay hãy cùng chúng tôi dâng mình lại theo gương mẫu Đức Maria, dâng trọn vẹn để sống mật thiết với Chúa Giêsu và công cuộc Cứu thế của Người.

Anh chị em giáo dân hãy hợp lòng với tất cả các bậc tu trì chúng tôi để cùng dâng linh hồn và thân xác, đời sống và gia đình cho Chúa, cho Đức Mẹ để xứng đáng là tín hữu, tức là có đức tin trung tín.

Và như vậy, tất cả chúng ta, sau khi dâng mình hiệp với của lễ dâng trên bàn thờ, để gắn bó với tâm tình hiến dâng của Chúa và Đức Mẹ, và sau khi mang tinh thần hiến dâng trọn vẹn ở nơi mình, chúng ta trước khi ra về sẽ dâng Giáo phận, các Giáo xứ, các Cộng đoàn, các gia đình và hết thảy mọi người cho Chúa, dâng mình trọn vẹn, tuyệt diệu của Đức Maria Mẹ chúng ta trong Thánh lễ hôm nay.

Chúng ta cùng nhau đứng lên bắt đầu thái độ hiến dâng trong các lời nguyện cầu sau đây cho mọi thành phần dân Chúa và xã hội.

Đaminh Xuân Uyển SDB