angel childChính ngày này, cách đây tròn 99 năm, ngày 13 tháng 05 năm 1917, Đức Mẹ đã hiện ra tại Fatima với Lucia, Giaxinta và Phanxicô. Trong những lẫn hiện ra tại đó, Đức Mẹ đã nói với ba trẻ rất nhiều điều. Hôm nay, chúng ta cùng nhau đọc lại những sứ điệp đó để xem Đức Mẹ nhắn nhủ chúng ta làm gì?

Lần hiện ra thứ nhất, ngày 13 tháng 05 năm 1917, Đức Mẹ nhắn nhủ:“Chúng con hãy lần hạt Mân Côi hàng ngày, để cầu cho thế giới được chóng hòa bình và chiến tranh sớm chấm dứt”.

Vào Ngày 13 tháng 6 năm 1917, Đức Mẹ căn dặn rằng: “Các con hãy lần hạt và sau mỗi chục thì đọc: Lạy Chúa Giêsu, xin tha tội cho chúng con, xin cứu chúng con khỏi sa Hỏa ngục, xin đem các linh hồn lên Thiên đàng, nhất là những linh hồn cần đến lòng thương xót Chúa hơn. Mẹ muốn các con đi học để biết đọc, biết viết, rồi Mẹ sẽ cho các con biết thêm những gì Mẹ muốn”.

Vào ngày 13 tháng 7 năm 1917, Đức Mẹ mời gọi ba trẻ dâng hy sinh để cầu cho kẻ có tội, Mẹ nói:“Các con hãy dâng những hy sinh để đền thay cho những người tội lỗi. Khi làm việc hy sinh, các con hãy thưa với Chúa những lời này: Lạy Chúa Giêsu, con xin dâng việc hy sinh này vì lòng mến Chúa. Xin cho kẻ có tội biết ăn năn trở lại và đền bù về những tội lỗi người ta đã xúc phạm đến Trái Tim vô nhiễm nguyên tội Mẹ Maria”.

Sau khi cho ba trẻ thấy hoả ngục, Đức Mẹ nói: “Chúng con vừa xem thấy hỏa ngục nơi giam cầm những kẻ có tội. Để khỏi vào tai họa này, Thiên Chúa muốn thiết lập lòng tôn sùng Trái Tim Mẹ trên khắp thế giới. Nếu người ta thực hiện những điều Mẹ nói, thì nhiều linh hồn sẽ được cứu rỗi và thế giới sẽ có hòa bình, chiến tranh sẽ chấm dứt. Nhưng nếu nhân loại không ngừng xúc phạm tới Thiên Chúa, thì chiến tranh sẽ bùng nổ dữ dội và khung khiếp hơn. Khi nào các con nhìn thấy ánh sáng xuất hiện khác thường, thì các con nhớ rằng đó là dấu hiệu Chúa báo cho các con hay, Thiên Chúa sắp dùng chiến tranh, đói khát, bắt bớ Giáo Hội và Đức Thánh Cha, hầu giáng phạt thế gian. Để ngăn ngừa những sự ấy, Mẹ nài xin người ta dâng nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ và rước lễ đền tạ trong các ngày thứ Bảy đầu tháng. Nếu nhân loại đáp ứng lời kêu gọi của Mẹ, nước Nga sẽ trở lại và thế giới sẽ có hòa bình. Nếu không, nước Nga sẽ truyền bá những thuyết sai lầm trên toàn thế giới, sẽ gây ra nhiều cuộc chiến tranh và bách hại Giáo Hội. Kẻ lành sẽ chịu tử đạo, Đức Thánh Cha sẽ chịu nhiều đau khổ, nhiều quốc gia sẽ bị hủy diệt. Nhưng sau cùng Trái tim Mẹ sẽ toàn thắng. Đức Thánh Cha sẽ dâng nước Nga cho Mẹ. Nước Nga sẽ trở lại và nhân loại sẽ được Chúa ban cho một thời hòa bình. Tại Bồ Đào Nha sẽ giữ được đức tin ».

Vào ngày 13 tháng 9 năm 1917, Đức Mẹ nói với Lucia : « Con hãy nói với mọi người tiếp tục lần hạt mỗi ngày để xin cho chiến tranh chóng chấm dứt ».

Vào ngày 13 tháng 10 năm 1917, Đức Mẹ nói rằng : « Mẹ muốn xây một nhà thờ ở đây để tôn kính Mẹ. Mẹ là Mẹ Mân Côi. Mẹ muốn các con tiếp tục lần hạt mỗi ngày. Chiến tranh sẽ chấm dứt và binh lính sắp được trở về với gia đình».

Tất cả những sứ điệp của Đức Mẹ qua những lần hiện ra trên đây được tóm lại trong ba mệnh lệnh, được coi như những phương thế tối hảo để cứu vãn hoà bình thế giới, đó là: Hãy cải thiện đời sống; Hãy lần hạt Mân Côi; Hãy tôn sùng Trái tim Mẹ.

Hãy cải thiện đời sống: Cải thiện đời sống hay thống hối ăn năn tội là cụm từ được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong Kinh Thánh, từ Cựu Ước sang Tân Ước. Đó cũng là chủ đề chính mà Thánh Gioan Tẩy Giả và Chúa Giêsu rao giảng. Bởi vì, để được tha tội, để được cứu rỗi cần phải có lòng thống hối. Tại Fatima, Đức Mẹ cũng nhắc đi nhắc lại với ba trẻ việc sám hối, cải thiện đời sống. Lần hiện ra ngày 13 tháng 06 năm 1917, chị Lucia xin Đức Mẹ chữa lành cho một bệnh nhân. Đức Mẹ trả lời: “Nếu anh ấy ăn năn trở lại, thì trong năm nay anh sẽ được chữa lành”. Lần hiện ra ngày 13 tháng 10 năm 1917, chị Lucia cũng muốn xin ơn cho một số người, Đức Mẹ nói: « Mẹ sẽ ban cho một số, còn một số thì không. Nhưng họ phải cải thiện và xin ơn tha thứ lỗi lầm của họ. Đừng xúc phạm đến Thiên Chúa nữa, vì Ngài đã bị xúc phạm quá nhiều rồi ». Năm 1858, khi hiện ra tại Lộ Đức, Đức Mẹ lặp đi lặp lại ba lần với Thánh nữ Bernadette: “Hãy sám hối, hãy sám hối, hãy sám hối”.

Vậy, để được tha thứ tội lỗi, để thực hiện lời Mẹ nhắn nhủ, mỗi người chúng ta hãy quyết tâm cải thiện đời sống của mình bằng cách sám hối ăn năn và lãnh nhận Bí tích Giao Hoà.

Siêng năng lần hạt Mân Côi: Năm 1208, Đức Mẹ đã thân hành hiện xuống dạy thánh Đa Minh truyền bá việc lần hạt Mân côi. Năm 1858, khi hiện ra tại Lộ Đức, Đức Mẹ cũng mang tràng hạt theo và cùng lần hạt với Bernadette. Đặc biệt, ở Fatima, Đức Mẹ tự xưng mình là Nữ Vương Rất thánh Mân Côi. Ngài muốn chúng ta tỏ lòng tôn sùng Ngài trong phép lần hạt Mân Côi. Ngài khẩn khoản xin các em lần hạt, và cổ động cho người ta lần hạt, và đó cũng là một trong ba điều kiện để có hòa bình. Nhiều người nhờ ba trẻ xin Đức Mẹ ơn nọ ơn kia, Đức Mẹ thường trả lời: “Hãy bảo người ta lần hạt Mân Côi”. Chính Phanxicô lúc đầu không được trông thấy Đức Mẹ hiện ra, nhưng sau đó nghe lời chị Lucia, Phanxicô lần hạt và được thấy Đức Mẹ.

Vậy, lâu nay chúng ta đã siêng năng lần hạt chưa? Hãy quyết tâm lần hạt, lần hạt mỗi ngày, lần hạt chung, lần hạt riêng và lần hạt một cách sốt sắng. Làm vậy, không chỉ chúng ta thực hiện lời Mẹ dạy mà còn đem lại lợi ích hồn xác cho chúng ta và cầu nguyện cho hoà bình thế giới.

Tôn sùng Trái Tim Mẹ: Mẹ Maria vừa là Mẹ Thiên Chúa vừa là Mẹ của chúng ta. Mẹ là Đấng trung gian, là máng thông ơn Thiên Chúa. Bổn phận của chúng ta là phải tôn sùng Mẹ. Hơn nữa, chính Mẹ đã đích thân khuyên nhủ mọi người hãy tôn sùng trái tim Mẹ, trái tim đã bị đâm thâu vì tội lỗi của loài người. Mẹ khuyên nhủ chúng ta hãy yên ủi trái tim Mẹ, hãy ẩn mình trong trái tim ấy để chúng ta làm mọi việc với Mẹ, trong Mẹ, vì Mẹ và cho Mẹ.

Vậy, chúng ta đã làm những gì để thể hiện lòng tôn sùng Mẹ ? Có nhiều cách để chúng ta thể hiện lòng tôn sùng Đức Mẹ. Tôn sùng Trái Tim Đức Mẹ bằng cách mang ảnh Mẹ trong mình, trang hoàng bàn thờ Mẹ trong gia đình, tôn kính ảnh tượng Mẹ tại các nơi công cộng. Tôn sùng Trái Tim Mẹ bằng cách mang áo Đức Bà, nhất là áo Đức Bà núi Camêlô. Tôn sùng Trái Tim Đức Mẹ bằng cách đọc kinh cầu Đức Bà, đọc kinh Truyền Tin, giữ ngày thứ bảy đầu tháng, lần chuỗi Mân côi…Đặc biệt, tôn sùng Trái Tim Đức Mẹ bằng cách tận hiến và phó thác cho Mẹ.

Sứ điệp của Mẹ Fatima luôn có tính thời sự. Ngày hôm nay, nhiều nơi trên thế giới vẫn đang còn chiến tranh. Tội lỗi, gương xấu lan tràn khắp nơi. Đất nước Việt Nam chúng ta đang sống trong chế độ vô thần, đang bị thù trong giặc ngoài đe doạ: Đe doạ sự toàn vẹn lãnh thổ; đe hoạ về môi trường; đạo đức luân lý xuống cấp; nạn tham ô tham nhũng…Để cứu vãn thế giới, để đất nước thoát khỏi các đại nạn, để mỗi người được hưởng ơn cứu độ, mỗi người kitô hữu chúng ta hãy đến với Đức Mẹ, thực hành những sứ điệp mà Mẹ trao ban: Cải thiện đời sống, siêng năng lần hạt, tôn sùng trái tim Mẹ.

Để kết thúc, chúng ta nghe lời nhắn nhủ của vị cha chung Giáo hội trong buổi tiếp kiến chung ngày thứ tư 11-5 vừa qua, Ngài nói: “Đức Mẹ Fatima mời gọi chúng ta một lần nữa hướng lòng cầu nguyện, ăn năn và hoán cải. Mẹ muốn chúng ta đừng bao giờ làm phiền lòng Chúa nữa. Mẹ báo trước cho toàn nhân loại về việc cần bỏ mình theo Chúa, nguồn cội của yêu thương và thương xót. Hãy theo gương thánh Gioan Phaolô II, một người sùng kính Đức Mẹ Fatima, hãy để tâm lắng nghe Mẹ Thiên Chúa và xin hòa bình cho thế giới. Chúc tụng Chúa Giêsu Kitô!”(Nguồn: phanxico.vn)

Lạy Mẹ Fatima, chúng con cám tạ Mẹ đã luôn đồng hành với nhân loại chúng con nhất là những lúc khó khăn. Xin Mẹ tiếp tục hướng dẫn và chỉ dạy để chúng con đi đúng đường lối của Chúa. Đặc biệt, xin Mẹ cho mỗi người chúng con luôn biết cải thiện đời sống, siêng năng lần hạt, tôn sùng Trái Tim Mẹ để thế giới và đất nước Việt Nam chúng con được sống trong hoà bình thịnh vượng. Amen.

Lm. Anthony Trung Thành

Me Maria VN 2“Và người môn đệ đem Mẹ về nhà của mình” (Ga 19,27b)

Giữa lưng chừng đèo Ngoạn mục trên đường từ Đà Lạt đi Phan Rang, có một cái am nhỏ bên đường hầu như lúc nào cũng nghi ngút khói hương. Hàng tháng, có một cụ già không biết từ đâu đón xe đến đây và dừng lại bên đường. Mắt cụ hướng về nơi xa xăm và thành kính đứng lần hạt một mình. Khi hỏi chuyện, cụ già mới kể lại một biến cố đã xảy ra khá lâu. Cụ xúc động thuật lại : “ Hồi ấy, tôi đi trên chuyến xe đò từ Đà Lạt xuôi về Phan rang. Chiếc xe chở đầy khách. Giữa trưa hè oi bức, mọi người trên xe đều thiu thiu ngủ, còn tôi, tôi ngồi lần hạt. Thế rồi tôi cảm thấy dường như có một bàn tay vô hình xô đẩy tôi thật mạnh. Tôi văng ra khỏi cửa xe và ngã dập dụi xuống đất. Bỗng có những tiếng ầm ầm vang lên rung chuyển cả một vùng đồi núi. Chiếc xe đò đứt thắng và lao nhanh xuống vực. Tài xế và mọi hành khách trên xe đều tử nạn, duy nhất mình tôi sống sót. Tôi cảm nghiệm rằng chính Đức Mẹ đã cứu tôi. Vì vậy cứ vào ngày 13 mỗi tháng, tôi đến đây để cầu nguyện và tạ ơn Đức Mẹ vì phép lạ lớn lao này, đồng thời cũng cầu nguyện cho vong linh những người xấu số trong chuyến xe định mệnh hôm ấy”. Câu truyện cụ già thuật lại giúp chúng ta thâm tín điều mà Cha thánh Gioan Bosco đã nói cho các học sinh của Ngài: “Chúng con cứ tin tưởng vào Mẹ Maria, chúng con sẽ thấy phép lạ là gì.”

Lược sử lễ mân côi

Kinh mân côi đã có từ lâu, và Cha thánh Đaminh đã cổ vũ mạnh mẽ việc đạo đức này ngay từ thế kỷ 12. Đó là thứ vũ khí rất hiệu nghiệm Đức Mẹ đã chỉ cho thánh nhân để chống lại lạc giáo. Nhưng lễ mân côi chính thức xuất hiện trong phụng vụ từ thế kỷ 16. Bối cảnh xã hội bấy giờ rất rối ren, nhất là xảy ra cuộc thánh chiến đẫm máu giữa đội quân Thánh giá Âu Châu, và quân Hồi Giáo Thổ Nhỹ Kỳ. Cuộc chiến thắng vang dội ở vịnh Lepanto năm 1572 là một phép lạ vĩ đại nhờ kinh mân côi. Vì vậy, vào tháng Ba năm ấy Đức Piô thứ 5 đã lập ra lễ ‘Đức Mẹ Chiến thắng’ để ghi nhớ biến cố lịch sử này. Năm sau, tức năm 1573, Đức Giáo Hoàng Grêgoriô đổi tên là lễ Mân côi để bày tỏ lòng tri ân đối với Đức Mẹ, đồng thời cũng quảng bá việc lần hạt Mân côi rộng khắp trong phụng vụ công giáo toàn cầu.

Ý nghĩa kinh mân côi

Trong Tông huấn Marialis Cultus (Lòng tôn sùng Đức Maria), Đức Thánh Cha Phaolô đệ lục đã viết: “ Kinh mân côi có khả năng phát triển một lối cầu nguyện có tính chiêm niệm, vừa là chúc tụng, vừa là khẩn cầu. Hơn nữa, kinh này có một hiệu năng nội tại giúp ta tiến bộ trong đời sống Kitô hữu và trong dấn thân hoạt động tông đồ” ( số 44 ). Trong kinh mân côi, chủ đề về các mầu nhiệm để suy gẫm đều trích từ Kinh thánh. Kinh Kính mừng bắt đầu bằng lời chào chúc của sứ thần Gabriel và sự thành tín đón nhận ý Chúa nơi Đức Maria. Tất cả đều được gợi hứng từ Tin mừng. Phần sau của lời kinh do Giáo hội thêm vào diễn bày sự tín thác của chúng ta đối với Đức Mẹ, là thầy dạy đức tin, và cũng là người đồng hành với chúng ta trong cuộc lữ hành đức tin trần thế. Kinh Lạy Cha là lời kinh ý nghĩa nhất và đầy đủ nhất do chính Đức Giêsu chỉ dạy. Cũng vậy, lời vinh tụng ca trong kinh Sáng danh chúng ta đọc lên sau mỗi mầu nhiệm được suy ngắm là lời kinh truyền thống đã có từ xa xưa mà Giáo hội vẫn xướng lên khi kết thúc các thánh vịnh để ca tụng Thiên Chúa Ba ngôi. Như vậy ý nghĩa các mầu nhiệm và các lời kinh chúng ta đọc lên không phải là ngẫu hứng do cảm tính đạo đức con người tạo ra, nhưng tất cả đều khởi nguồn cảm hứng từ Thánh kinh.

Tuy nhiên, chúng ta thấy hiện nay đang có một cuộc khủng hoảng lan rộng về việc bỏ đọc kinh mân côi thậm chí còn tẩy chay một cách quá khích. Người ta dễ suy nghĩ theo lập luận của một số anh em hệ phái Tin lành, khi áp dụng cứng ngắc và sai lạc tư tưởng của Thánh Phaolô “ Sola Fides, Sola Scriptura” được viết trong thư Rôma. Họ cho rằng chỉ cần tin (sola fides) và đọc Kinh thánh (sola scriptura) là đủ. Vì thế, nhiều người đả kích việc tôn sùng Đức Mẹ và coi việc lần hạt như là một việc đạo đức vô bổ.

Chúng ta phải rất thận trọng trước những tư tưởng xem ra có vẻ cấp tiến nhưng không đúng với giáo huấn của Giáo hội như thế. Tư tưởng đó sẽ đúng trong thực tế, nếu chúng ta ‘tôn thờ’ Đức Maria như một “siêu Thiên Chúa”, hoặc nếu chúng ta không đào sâu ý nghĩa của kinh mân côi và chỉ đọc đi đọc lại những câu kinh vô hồn giống hệt một cái máy. Tư tưởng đó sẽ rất sai, khi chúng ta biết dùng kinh mân côi để cùng Đức Maria đi vào trọng tâm của mầu nhiệm cứu độ, gẫm suy Lời Chúa, và sống các mầu nhiệm ấy trong cuộc lữ hành đức tin hằng ngày. Kinh mân côi không phải là một việc đạo đức lạc hậu hay lỗi thời, nhưng đây là phương thế tuyệt hảo để chúng ta biết nhìn lên Đức Maria và học với Ngài như là thầy dạy đức tin. Thời của Don Bosco có một vị ân nhân đến thăm Ngài và hứa cho Ngài một số tiền lớn để nuôi các em học sinh, với điều kiện là Don Bosco phải nói cho các học sinh đừng lần hạt nữa. Ông ta khó chịu khi thấy các em cứ đọc đi đọc lại những kinh kính mừng mà ông ta cảm thấy nhàm chán và vô nghĩa. Don Bosco mời ông ta bước ra khỏi nhà mình ngay và nói với ông cách thẳng thừng: “Xin ông cút đi khỏi nơi đây. Chúng tôi không có tiền, nhưng chúng tôi cần Đức Mẹ hơn là cần đến ông”. Vì thế Ngài đã nói với các con cái: “ Chúng con cứ tin tưởng vào Chúa Giêsu Thánh Thể và Mẹ Maria chúng con sẽ thấy phép lạ là gì.”

Đức Maria, Thầy dạy đức tin.

Ngày nay người ta rất hay dùng lối nói cường điệu hóa, với hạn từ “siêu” ở mọi lãnh vực. Về giao thông có siêu xa lộ, ngay cả chợ búa cũng có siêu thị. Cầu thủ đá bóng được ngưỡng mộ gọi là siêu sao. Tài tử đóng phim giỏi được gọi là siêu minh tinh và nói chung về con người có các siêu nhân. Nhưng Đức Maria mà chúng ta tôn vinh không phải là “siêu Thiên Chúa”. Đức tin là một nhân đức đối thần. Đối tượng đức tin của chúng ta là Thiên Chúa, và chỉ duy nhất một mình Thiên Chúa mà thôi. Đức Maria cho dầu được quý trọng đến đâu, vẫn không thể sánh với Thiên Chúa, cho dầu Mẹ được đặc tuyển trở nên Mẹ Thiên Chúa. Mẹ cũng là thụ tạo, nhưng là thụ tạo trổi vượt. Mẹ được chọn để trở nên mẹ Đấng Cứu thế, Mẹ Giáo hội và cũng là Mẹ của chúng ta. Khi lần hạt, cũng như khi biểu tỏ lòng tôn sùng Mẹ, chúng ta nhìn lên Mẹ như là khuôn mẫu đức tin. Chúng ta đến với Mẹ như Thầy dạy đức tin của chúng ta. Chúng ta hãy bắt chước Thánh Gioan khi đứng dưới chân thập giá, người môn đệ đã “ đem Mẹ về nhà mình” (Ga 19, 27b). Đức Maria chính là hiền mẫu của chúng ta.

Kết luận

Để kết luận, tôi xin trích mượn lá thư của một tù nhân công giáo từng bị giam giữ ở Liên xô trước đây. Lá thư anh viết năm 1976, gửi cho một anh công an vô thần đã được đăng trên báo La Croix. Đây là nội dung bức thư:

“ Người anh em thân mến. Tôi không biết anh tên là gì, và ngay cả khuôn mặt của anh giờ đây tôi vẫn không nhớ rõ. Cuộc gặp gỡ giữa chúng ta diễn ra chớp nhoáng khiến tôi không đủ thời gian ghi nhận hình ảnh của anh. Tuy nhiên anh đã để lại tâm hồn tôi một niềm vui và sự ấm áp tình người giữa một nơi chỉ có bạo lực, hống hách và đàn áp. Tôi nhớ mãi buổi sáng hôm ấy, anh xuất hiện trong phòng giam. Anh nhìn tôi chăm chú và lục soát cẩn thận mọi thứ trên người tôi. Anh hăm hở thò tay vào túi áo tôi và kiểm tra. Trong nháy mắt, tôi tưởng chừng tim tôi ngừng đập. Anh rút vật ấy ra khỏi túi và chăm chú nhìn vào nó, một cỗ tràng hạt. Tôi chuẩn bị lắng nghe những lời chửi bới thậm tệ từ miệng anh: “ Đồ khốn nạn, đồ mê tín..” Tôi biết cỗ tràng hạt ấy là đồ quốc cấm, và nó có thể là nguyên cớ đưa tôi đến phòng biệt giam. Bốn mắt nhìn nhau. Tôi, người tù mang số 5982, và anh, một viên công an, là người cai tù, cũng có thể là tay lý hình. Tôi lo lắng chờ đợi điều sẽ xảy ra. Tôi thấy anh lưỡng lự và tỏ dấu đăm chiêu. Anh lau vuốt vật ấy trên tay, điều đó khiến tôi bủn rủn chân tay như một tên tử tù sắp bị đem đi bắn. Đó là kỷ vật duy nhất vợ tôi trao cho tôi ngày tôi bị bắt. Tôi đứng bất động, con tim thắt lại.

Ngày hôm sau, trước khi lên đường chuyển trại, tôi được nhận lại túi đồ của tôi, đặt trước cửa buồng giam số 172. Chúng tôi lại bị còng tay, bị xếp hàng dẫn đi, có công an chĩa súng đi kèm, có cả chó dữ theo sát chúng tôi nữa. Trưa hôm đó, khi thò tay vào túi xách để lấy ra ít vật dụng cá nhân, tay tôi chạm phải một cái bao nhỏ. Thì ra, đó chính là vật anh đã bắt được trong túi áo của tôi: tràng chuỗi mân côi đã được gói lại kỹ lưỡng và cẩn thận. Khi vào buồng giam mới, tôi mở gói để lấy ra cỗ tràng hạt. Bất chợt, tôi bắt gặp một tờ giấy nhỏ trên đó có hàng chữ do chính anh viết, nét chữ nghệch ngoạc: “ Bạn hãy cầu nguyện cho tôi.”

Luc đó trong lòng tôi rộn lên một niềm vui khôn tả, và tim tôi dâng trào niềm mến thương đặc biệt đối với anh. Giờ đây, mỗi khi cầm cỗ tràng hạt để lần chuỗi mân côi kính Đức Mẹ, tôi vẫn nhớ đến anh và cầu nguyện cho anh. Tôi tin chắc chắn rằng Đức Mẹ sẽ không bao giờ bỏ rơi anh, cho dù có thể bây giờ anh vẫn còn là người vô thần.

Lạy Đức trinh nữ Maria rất thánh Mân côi, xin cầu cho chúng con.

Lm. Gioan B. Trần Văn Hào SDB

Me MariaNgày 07/10/1571, ĐGH Piô V đã truyền cho toàn thể Hội Thánh sốt sắng lần chuỗi Mân Côi để kêu xin Đức Trinh nữ Maria cứu giúp binh đoàn Công giáo đang chiến đấu với người Hồi giáo tại vịnh Lépante. Đức Mẹ đã nhậm lời, và binh đoàn Công giáo đã chiến thắng vẻ vang trong chính ngày 07/10 đó. Để muôn đời ghi nhớ ơn lành của Mẹ, Đức Giáo hoàng Grêgôriô XIII, đấng kế vị Đức Piô V đã thiết lập Lễ Mân Côi, lễ mà chúng ta long trọng cử hành hôm nay.

Mừng lễ hôm nay, không phải để kỷ niệm một chiến thắng quân sự vật chất, mà để chúng ta ý thức về một phương thế đạo đức hiệu nghiệm mà chính Đức Mẹ cũng như Giáo Hội luôn khuyến khích.

Tại sao phải lần chuỗi Mân Côi ?

Trong tất cả những lần hiện ra với con cái loài người, Đức Mẹ luôn khuyến khích người ta hãy chuyên cần lần chuỗi Mân Côi, như ở Lộ Đức và ở Fatima.

Để thực thi ý muốn của Đức Mẹ, Giáo Hội cũng không ngừng cổ động, kêu gọi con cái hãy siêng năng lần hạt Mân Côi. Đức Giáo hoàng Piô IX nói: "Chúng con muốn được sự bình an trong tâm hồn, bình an trong gia đình và trong xứ sở... thì hãy hợp nhau ban tối để cùng nhau lần hạt Mân Côi".

Đức Giáo hoàng Lêô XIII nói : "Cha mạnh dạn quả quyết rằng: Gia đình nào có truyền thống lần hạt Mân Côi hằng ngày, sẽ không bao giờ mất đức tin".

Đức Giáo hoàng Piô XII rất tin tưởng vào phép mầu của tràng chuỗi Mân Côi, nên đã tuyên bố: "Không có một phương cách nào linh diệu hơn để tiếp nhận nhiều ơn lành của Chúa xuống cho gia đình, cho bằng lần hạt Mân Côi".

Không chỉ bằng những lời khuyến khích suông, Giáo Hội còn ban nhiều ân xá cho những ai sốt sắng lần hạt Mân Côi, đặc biệt là:

- Ai lần chuỗi 50 trước Mình Thánh Chúa trong nhà thờ, nhà nguyện, bất cứ đọc một mình hay đọc chung với người khác, được hưởng nhờ một ơn đại xá.

- Lần chuỗi chung với nhau trong gia đình, hay trong các cộng đoàn, dù không phải trước Mình Thánh Chúa, cũng được hưởng một ơn đại xá.

Tại sao Hội Thánh lại hết sức khuyến khích và rộng rãi ban nhiều ân xá cho những ai lần chuỗi Mân Côi như vậy? Thưa, vì đó là kinh nguyện dựa trên nền tảng Thánh Kinh và mọi người đều có thể thực hành được. Linh mục Lacordaire, nhà giảng thuyết thời danh đã gọi "Chuỗi Mân Côi là bản tóm lược cuốn Phúc Âm".

Chuỗi Mân Côi đầy đủ gồm 20 mầu nhiệm Vui - Sáng - Thương - Mừng. Và trong Tông thư Tràng hoa Mân Côi dâng kính Trinh nữ Maria mới đây, ĐGH Gioan Phaolô II đã đề nghị thêm 5 mầu nhiệm Sự Sáng, tức là 20 mầu nhiệm, gồm tóm tất cả những sự kiện chính yếu trong đời Chúa và Đức Maria. Từ khi Đức Mẹ được truyền tin cho đến khi Chúa Thánh Thần hiện xuống và Đức Mẹ được Chúa cho hồn xác lên trời và đặt làm Nữ Vương trên trời dưới đất.

Sau khi được Truyền tin, Đức Maria vội vã đi thăm bà Isave. Sau đó sinh con; rồi sau 40 ngày dâng con cho Thiên Chúa. Năm Chúa lên 12 tuổi, Mẹ và Thánh Giuse đã tìm thấy con sau ba ngày lạc mất trong đền thờ. Khi ra giảng đạo, trước hết là chịu phép rửa bởi Gioan ở sông Giorđan; dự tiệc cưới ở Cana; công bố Nước Trời kêu gọi sám hối; biến hình trên núi; lập Bí tích Thánh Thể. Sau khi lập Bí tích Thánh Thể, Chúa đi cầu nguyện và hấp hối trong vườn Cây Dầu. Sau đó bị bắt chịu đánh đòn, chịu đội mũ gai, chịu đóng đinh và chết trên Thánh giá. Được các môn đệ hạ xác chôn trong mồ. Sáng ngày thứ nhất trong tuần thì sống lại; 40 ngày sau khi sống lại lên trời; 10 ngày sau khi lên trời cử Chúa Thánh Thần xuống với các tông đồ. Đức Maria qua đời được đưa về trời cả hồn và xác, rồi được Thiên Chúa đặt làm Nữ Vương hoàn vũ. Đó là tóm lược tất cả cuốn Phúc Âm.

Kinh Mân Côi giúp ích gì cho chúng ta ?

Kinh Mân Côi là một phương cách cầu nguyện rất hữu hiệu mà ai cũng có thể thực thi. Người già, người trẻ, thậm chí cả trẻ em nữa. Chúng ta có thể lần hạt mọi nơi: đi tàu xe, đi chợ, ở nhà thờ hay ở nhà; khi có giờ lần cả chuỗi 50, không có giờ thì lần 10, v.v...

Tuy nhiên, một điều cần lưu ý là chúng ta cần lần hạt sốt sắng, chứ không phải lần nhiều mà thiếu suy gẫm. Những kinh chúng ta đọc là những kinh trọng nhất trong đạo: Kinh Lạy Cha là kinh chính Chúa Cứu Thế đã dạy. Kinh Kính Mừng gồm lời chào của sứ thần Gabriel và lời ca tụng Đức Mẹ của bà Isave. Kinh Sáng Danh là lời tôn vinh Thiên Chúa Ba Ngôi của Hội Thánh. Các mầu nhiệm phải suy gẫm là các mầu nhiệm trong đời Chúa Cứu Thế và Đức Mẹ. Ví dụ suy gẫm thứ hai mùa Vui, Đức Bà đi thăm bà Isave, chúng ta phải cố gắng bắt chước Đức Mẹ thực hiện đức yêu thương ngay trong gia đình, với bà con, với mọi người. Thứ hai mùa Mừng, Chúa Giêsu lên trời, chúng ta phải suy rằng cuộc đời này phải ăn thì phải làm lụng, buôn bán nhưng phải cố gắng nhớ đến mục đích đời này là để chuẩn bị về với Chúa đời sau, nên phải ăn ở lương thiện, tránh gian tham lỗi công bằng, v.v... Các mầu nhiệm khác cũng tương tự như thế. Đó là cách lần hạt hữu ích nhất.

Kinh Mân Côi có liên hệ gì với chúng ta ?

Cuộc đời của Chúa và Đức Mẹ cũng chẳng khác gì cuộc sống chúng ta. Chẳng thiếu những vui buồn lo lắng, bất trắc rủi ro như con cái hư hỏng, vợ chồng bất thuận, nghèo túng, bệnh tật, chết chóc... Chúng ta hãy bắt chước Đức Mẹ thưa vâng cách tin tưởng, cậy trông, phó thác hoàn toàn vào Chúa quan phòng. Hãy chạy đến với Mẹ khi gặp những hoàn cảnh khó khăn của cuộc đời. Chắc chắn Mẹ sẽ an ủi, nâng đỡ, vì chưa có ai chạy đến với Mẹ xin bầu chữa cứu giúp mà Mẹ từ bỏ chẳng nhậm lời.

Lạy Nữ Vương truyền phép Rất Thánh Mân Côi. Xin cầu cho chúng con.

 

Lm Giuse Đinh Tất Quý

Me Maria WhitePhải chăng đó là “Sứ điệp tử đạo”, khi Đức Mẹ La Vang hiện ra cùng với các tín hữu đang chạy trốn cơn bắt đạo dưới thời vua Cảnh Thịnh.
Quả thật, Mẹ Maria hiện ra ở La Vang năm 1798 thật sự là để củng cố đức tin cho đoàn con Công Giáo Việt Nam đang li loạn, nhờ đó họ có thể mạnh mẽ sẵn sàng hiên ngang tử đạo làm chứng cho Chúa Kitô khi cần.
Đức Mẹ Maria hiện ra tại La Vang với Sứ điệp nào? Phải chăng đó là “Sứ điệp tử đạo”, khi Đức Mẹ La Vang hiện ra cùng với các tín hữu đang chạy trốn cơn bắt đạo dưới thời vua Cảnh Thịnh. Quả thật, Mẹ Maria hiện ra ở La Vang năm 1798 thật sự là để củng cố đức tin cho đoàn con Công Giáo Việt Nam đang li loạn, nhờ đó họ có thể mạnh mẽ sẵn sàng hiên ngang tử đạo làm chứng cho Chúa Kitô khi cần.

Đức Mẹ La Vang

Trong các Biến Cố Thánh Mẫu xẩy ra trên thế giới từ trước đến nay, nhất là so với các Biến Cố Thánh Mẫu nổi tiếng như Biến Cố Thánh Mẫu Guadalupê ở Mễ Tây Cơ Mỹ Châu năm 1531, Biến Cố Thánh Mẫu Balê ở Pháp năm 1830, Biến Cố Thánh Mẫu La Salette cũng ở Pháp năm 1846, Biến Cố Thánh Mẫu Lộ Đức lại tại Pháp năm 1858, và Biến Cố Thánh Mẫu Fatima ở Bồ Đào Nha năm 1917, thì Biến Cố Thánh Mẫu La Vang thật sự không bằng. Không bằng chẳng những về việc được Giáo Hội hoàn vũ chính thức công nhận, đến nỗi có được phụng vụ thánh lễ riêng, cũng như không bằng về những chi tiết lịch sử của mình.

Đúng thế, Biến Cố Thánh Mẫu La Vang có các chi tiết không rõ chẳng những về thời điểm và danh xưng mà còn cả về sứ điệp nữa.

Về thời điểm được phỏng đoán vào đời Tây Sơn – Cảnh Thịnh (1789-1801), khoảng tháng 8/1798 khi sắc chỉ bắt đạo được ban bố, và về địa điểm với danh xưng được người thì cho là La Vang (như ĐGM Hồ Ngọc Cẩn ngày 18/8/1932, hay quận công Nguyễn Hữu Bài ngày 28/2/1925), người thì cho là Lá Vàng (như cha Philiphê Lê Thiệu Bá, chánh quán làng Trí Bưu), người thì cho là Lá Vằng (như Niên Giám 2004 của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, trang 503).

Về sứ điệp cũng không thấy nói gì tới (như trong hai bộ sử về Giáo Hội Việt Nam, được hai linh mục sử học biên soạn đó là cha Phan Phát Huồn dòng Chúa Cứu Thế: Việt Nam Giáo Sử, in năm 1962, quyển hai, trang 547-560, và cha Bùi Đức Sinh dòng Đaminh: Giáo Hội Công Giáo Ở Việt Nam, in năm 2001, quyển 3, trang 61-62), hay có nói tới (như trong Giáo Hội Công Giáo Việt Nam Niên Giám 2004, in năm 2004, trang 501-510) lại không có tên người biên soạn như nhiều bài viết khác và không có cả thư mục trích dẫn.

Nếu hai linh mục chuyên gia nghiên cứu về Giáo Sử Việt Nam trên đây không hề tìm thấy gì liên quan đến sứ điệp của Đức Mẹ La Vang thì sứ điệp được Giáo Hội Công Giáo Việt Nam Niên Giám 2004 trích lại ở trang 504 từ đâu mà có: “Các con hãy tin tưởng, cam lòng chịu khổ, Mẹ đã nhận lời các con kêu xin. Từ nay về sau, hễ ai chạy đến cầu khẩn cùng Mẹ ở chốn này, Mẹ sẽ nhận lời ban ơn theo ý nguyện?”

Đức Mẹ La vang hiện ra tại la vang Mẹ La Vang hiện ra với các tin hữu

Tuy nhiên, không phải những gì con người quên sót đều là giả tạo hay huyền sử. Nếu không thể chối bỏ một hài nhi bị bỏ rơi trong thùng rác, không biết nó được sinh ra ở đâu, bởi ai và vào lúc nào, thì người ta cũng không thể dễ dàng phủ nhận một thực tại như Biến Cố Thánh Mẫu La Vang. Ở chỗ, trước hết, sự kiện Đức Mẹ hiện ra là những gì có thể xẩy ra, như đã từng xẩy ra ở những nơi khác, chẳng hạn như các trường hợp được kể đến trên đây. Sau nữa, sự kiện Mẹ Maria hiện ra thường vào những lúc con cái mình cần đến Mẹ; ở tiệc cưới Cana, trong khi đôi tân hôn và người quản tiệc hoặc vị chủ hôn chẳng hay biết gì về tình trạng thiếu rượu nguy kịch của mình, Mẹ đã tự động ra tay cứu giúp, huống chi con cái lại hết lòng tin tưởng chạy đến kêu cầu Mẹ trong cơn nguy biến, như ở La Vang. Sau hết, ngoại trừ liên quan đến tình hình khẩn trương của Giáo Hội nói chung và phần rỗi của con người nói riêng, như những Biến Cố Thánh Mẫu được kể đến trên đây, không phải lần nào hiện ra Mẹ cũng cần phải nói này nói kia, như trường hợp Biến Cố Thánh Mẫu Knock ở Ái Nhĩ Lan năm 1879, thậm chí có lần Mẹ không hiện ra mà chỉ tỏ cho con người thấy hiện tượng lạ mà thôi, như sự kiện tượng Mẹ chảy máu mắt ở giáo phận Civitavecchia Ý quốc vào lễ Mẹ Dâng Con 2/2/1995, một hiện tượng xẩy ra ngay cả trước mắt vị giám mục địa phương Girolamo Grilli ngày 15/3 cùng năm khi ngài đang cầm bức tượng trong tay để điều tra.

Đó là lý do, cho dù Đức Mẹ không nói năng gì, không ban sứ điệp chi, và cho dù có tính cách mập mờ về cả thời điểm lẫn danh xưng như thế mà Biến Cố Thánh Mẫu La Vang trở thành một cái gì hão huyền. Nếu một con người thành tâm thiện chí ngoại đạo nào đó đọc được hay nghe được một lời Phúc Âm Kitô giáo, liền nhận biết Sự Thật, nhận biết Chúa Kitô là Đấng họ chưa bao giờ thấy thế nào và theo lịch sử không biết có thật hay chăng, thì Sứ Điệp La Vang cũng chính là những gì cho thấy sự thật của biến cố này, một sự thật chẳng những liên quan đến biến cố có thật về lịch sử, mà còn đến cả nội dung thần linh từ trời của nó, chứ không phải từ ma quỉ hay từ óc tưởng tượng của loài người bày tạo ra.

Vậy đâu là Sứ Điệp La Vang? Căn cứ vào Biến Cố Thánh Mẫu Fatima nói chung và Bí Mật Fatima phần thứ ba nói riêng, chúng ta có thể kết luận là Sứ Điệp La Vang là Sứ Điệp Tử Đạo. Tại sao? Bởi vì, Mẹ Maria từ trời xuống không phải chỉ để an ủi và vỗ về đoàn con cái Công Giáo Việt Nam đang lâm cơn bách hại kinh hoàng, như thể Mẹ nói với họ rằng: “Các con đừng lo, đừng sợ, có Mẹ đây, không ai làm hại được các con đâu! Thấy các con trong cơn đớn đau khốn khổ mà vẫn hết lòng tin tưởng cậy trông nguyện cầu với Mẹ như thế, Mẹ làm sao không động lòng thương đến các con. Vậy các con hãy hái lấy những thứ lá rừng quanh đây để chữa trị bệnh nạn của các con”.

Lạy Đức Mẹ La Vang – Xin cứu con nguy nàn

Bình thường chúng ta hiểu sứ điệp La Vang là như thế, đúng như hoàn cảnh và ý hướng của dân chúng kêu xin Mẹ lúc bấy giờ, được phản ảnh ở câu cuối cùng trang 501 bài viết cho cuốn Niên Giám 2004: “Đức Mẹ Maria đã hiện ra an ủi, nâng đỡ con cái trong thời ly loạn cấm cách”. Quả thực, chính vì đang gặp cơn quẫn bách bắt đạo vô cùng khốn khổ mà nhóm dân chúng bỏ trốn đã thiết tha kêu xin Đức Mẹ cứu vớt cho họ khỏi bị gian nan nguy biến về phần xác là những gì liên quan đến mạng sống quí hoá của bản thân họ.

Thế nhưng, nếu ở Biến Cố Thánh Mẫu Lộ Đức, với nữ thánh Barnadetta vào lần hiện ra thứ ba ngày 18/2/1858, Mẹ Maria đã dứt khoát nói với chị rằng: “Mẹ không hứa cho con được hạnh phúc ở đời này mà là ở đời sau”, thì Sứ Điệp La Vang không phải là một sứ điệp của niềm ủi an, vỗ về, của việc cứu mạng sống con người về phần xác. Ở Biến Cố Thánh Mẫu Fatima, với ba thiếu nhi Lucia (10 tuổi), Phanxicô (9 tuổi) và Giaxinta (7 tuổi), vừa hiện ra lần thứ nhất, 13/5/1917, chưa xưng mình là ai và đến để làm gì, Mẹ Maria đã kêu gọi các em nhỏ này “hãy dâng mình cho Thiên Chúa chấp nhận tất cả mọi đau khổ Ngài gửi đến để đền tạ Ngài và cầu cho các tội nhân ơn ăn năn hoán cải”. Như thế, Sứ Điệp La Vang phải là một sứ điệp có tính cách tích cực và dấn thân; Mẹ đến chẳng những để an ủi vỗ về đoàn con dân Công Giáo Việt Nam của mình mà còn để củng cố đức tin cho họ nữa.

Trong phần Bí Mật Fatima, thì Đức Mẹ đã trực tiếp ra tay ngăn cản thanh gươm lửa ở trong tay trái của vị thiên thần đang chực trừng phạt thế giới, nhưng Mẹ không ngăn cản việc tử đạo của thành phần Kitô hữu, gồm đủ mọi thành phần, giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân, kể cả giáo hoàng, một tử đạo hết sức khẩn thiết và không thể thiếu để cứu thế giới băng hoại tội lỗi vào thời thế chiến I. Đó là lý do, ở đoạn cuối của Bí Mật Fatima phần thứ ba, thị kiến cho thấy, sau khi đoàn người Kitô hữu đủ mọi thành phần đang cố tiến lên một ngọn núi dốc đứng có thánh giá trên đỉnh, và sau khi vị giám mục mặc áo trắng là đức giáo hoàng băng ngang qua một thành phố, một nửa số người đã bị tiêu diệt tàn rụi và một nửa còn đang loạng choạng sầu khổ bước đi, thì đức thánh cha và các Kitô hữu leo lên núi bị những tên lính hạ sát bằng cung tên súng đạn lúc đang quì cầu nguyện dưới chân cây thánh giá, và hai thiên thần đứng dưới hai cánh thánh giá cầm bình nước thánh bằng phalê đựng máu của các vị tử đạo vẩy trên những ai đang tiến đến cùng Thiên Chúa.

Như thế, qua những lần Mẹ hiện ra, tiếp tục vai trò Trung Gian Ân Sủng của mình, Mẹ dọn đường cho Chúa tới với con người và đem con người về với Người, như Mẹ đã thực sự làm ở tiệc cưới Cana. Bằng cách, trước hết, Mẹ tự động chuyển cầu cùng Chúa cho tình trạng yếu hèn của chúng ta, sau nữa, Mẹ còn hướng dẫn cho chúng ta những gì thiết yếu bất khả thiếu để hội đủ điều kiện cho giờ Chúa đến, cho Nước Người trị đến nơi riêng chúng ta cũng như nơi chung Giáo Hội và nhân loại. Nếu hiện ra ở bất cứ nơi nào, Mẹ cũng đều tỏ lòng cảm thương ra tay cứu vớt, nhưng sứ điệp duy nhất của Mẹ là “Người bảo làm gì các con hãy làm như thế” (John 2:5), thì ở Biến Cố Thánh Mẫu La Vang cũng không ngoại lệ. Mẹ Maria hiện ra ở La Vang thật sự là để củng cố đức tin cho đoàn con Công Giáo Việt Nam, nhờ đó họ có thể mạnh mẽ sẵn sàng hiên ngang tử đạo làm chứng cho Chúa Kitô khi cần.

Trong tờ Thông tin của Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ (Newsletter of the Federation of Vietnamese Catholics in USA) số 17 tháng 5, 2002, Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đã tóm tắt Sứ Điệp Lavang thành 10 điểm, trong đó, 2 điểm cuối cùng hoàn toàn hợp với vấn đề được phân giải nơi đây, như sau: 1. “Bí quyết của việc cầu nguyện”; 2. “Sống tinh thần thơ ấu”; 3. Mầu nhiệm Thánh giá; 4. Hoàn toàn thuộc về Mẹ; 5. Phục vụ nguời nghèo khổ; 6. Xây dựng Giáo hội; 7. Thánh hoá gia đình và yêu mến Tổ quốc; 8. Đoàn kết và hiệp nhất; 9. Rao giảng Tin mừng và 10. Chứng nhân Hy vọng.

Chính vì Sứ Điệp La Vang là Sứ Điệp Tử Đạo mà sau Biến Cố Thánh Mẫu La Vang, tức sau một thời điểm mới mở đầu bằng 6 vị tử đạo thuộc hậu bán thế kỷ 18, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam đã chính thức sống Sứ Điệp Tử Đạo bằng một Mùa Tử Đạo trong thế kỷ thứ 19 dưới thời Nhà Nguyễn, với 111 vị tử đạo nữa, để làm nên 117 Vị Thánh Tử Đạo được Giáo Hội tuyên phong ngày 19/6/1988.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh

1pinkrose1Nhiều anh em không đồng ý Ðức Maria là Ðấng Ðồng Công Cứu Chuộc. Những anh em này lý luận rằng, nếu Ðức Maria thật là Ðấng Ðồng Công Cứu Chuộc thì công cuộc cứu chuộc chúng ta của Chúa Giêsu là một công cuộc cứu chuộc chưa đầy đủ, còn thiếu; vì có thiếu thì Chúa Giêsu mới cần người đồng công với mình, và nếu công cuộc cứu chuộc chúng ta của Chúa Giêsu còn thiếu thì đức tin chúng ta đặt vào Người là đức tin hão huyền. Nhưng vì Chúa Giêsu đã phán, Gioan 14:6, “Ta là đường, là sự thật, và là sự sống. Không ai đến được với Cha mà không qua thầy.” Cho nên, thật là rõ ràng, chúng ta có đến được với Chúa Cha hay không, có được cứu chuộc hay không là phải qua Chúa Giêsu, và chỉ có qua Chúa Giêsu mà thôi nên công cuộc cứu chuộc chúng ta của Chúa Giêsu phải là đầy đủ và vẹn toàn; Người không cần ai đồng công với Người, cho nên ai tin Ðức Maria là Ðấng Ðồng Công Cứu Chuộc thì người đó thật là sai lầm.

Anh em thân mến, đúng là chúng ta có đến được với Chúa Cha hay không là phải qua Chúa Giêsu và chỉ qua Chúa Giêsu mà thôi, nhưng Ðức Maria vẫn là Ðấng Ðồng Công Cứu Chuộc. Ðúng là công cuộc cứu chuộc chúng ta của Chúa Giêsu là công cuộc cứu chuộc hoàn toàn đầy đủ và vẹn toàn, nhưng Chúa Giêsu vẫn cần sự đồng công của mẹ mình là Ðức Maria Trinh Khiết Vẹn Toàn. Tại sao vậy?

Chúng ta hãy cùng nhau trở lại tội nguyên tổ. Như tôi đã chia xẻ với anh em trong TGBH 20, khi Ông Adong được tạo dựng thì con cái của ông, là mầm mống sự sống, đã có sẵn trong ông rồi. Cho nên khi Ông Adong ăn trái Chúa cấm, thì không phải chỉ một mình ông ăn, mà tất cả con cái ông đều đã ăn. Giống như một bà mẹ mang thai vậy, khi bà ăn thì thai nhi trong lòng bà cũng được ăn. Rõ ràng hơn, khi bất tuân mà ăn trái Chúa cấm thì hai ông bà đã trở thành người tội lỗi; mà từ là người vô tội đổi sang thành kẻ có tội là một sự thay đổi trạng thái, từ trạng thái sống sang trạng thái chết, chứ không phải là một ảnh hưởng như ăn đồ thiu thì bị đau bụng. Mà đã thay đổi trạng thái thì toàn thể con người của hai ông bà, mình, máu, linh hồn, nhân tính, và ngay cả mầm mống sự sống ở trong hai ông bà đều thay đổi. Tương tự như khi nước đổi từ thể lỏng sang thể đặc thì mọi phân tử của hợp chất nước đều thay đổi chứ không phải chỉ có một phân tử H hay O là thay đổi mà thôi. Chính vì vậy mà Thánh Phao Lô dạy, Romans 5:12, “Vậy, bởi một người mà tội đi vào thế gian, và vì tội mà có sự chết thì vì thế mà sự chết đến với mọi người, giống như là mọi người đã phạm tội vậy.” Thành ra, ngoại trừ Mẹ Maria thì chúng ta, kể cả trẻ sơ sinh, ai cũng mang tội ăn trái Chúa cấm tức là tội tổ tông, và những tội chúng ta phạm. Mà đã mang tội, dù là một tội rất nhỏ nhoi, thì cũng không ai có thể vào nước Chúa ngoại trừ là người đó tẩy xóa được tội lỗi của mình.

Làm sao để chúng ta có thể tẩy xóa tội lỗi của chúng ta? Thưa, tự chúng ta, chúng ta không thể làm gì để có thể tẩy xóa tội lỗi của chúng ta được; khi đã phạm tội, chúng ta chỉ có thể được tha thứ mà thôi. Ở đây, chúng ta cần phân biệt, khi tội được tha thứ thì hoàn toàn khác với được tẩy xóa. Tha thứ là bỏ qua, không bao giờ nhắc đến một lỗi lầm nào nữa, nhưng ảnh hưởng và kết quả gây ra bởi tội đó vẫn còn. Thí dụ tội đánh đập người vô cớ. Nếu như nạn nhân tha thứ cho người đánh đập mình thì chỉ có nghĩa là người bị đánh đập bỏ qua chuyện này, không truy tố, không bao giờ nhắc tới mà cũng không đòi hỏi gì. Thế nhưng những đau đớn mà nạn nhân phải chịu thì đã xảy ra và không thể lấy lại được, nên tuy đã được tha thứ, nếu kẻ hành hung thành tâm ăn năn thống hối thì phải tự tìm cách mà đền bù cho nạn nhân cách cân xứng, và tội hành hung này không được tẩy xóa cho đến khi nạn nhân được đền bù cách cân xứng. Còn tẩy xóa tội có nghĩa là tội đó được bôi đi, xóa đi; giống như tội đó chưa xảy ra. Vì thế mà tự chúng ta, chúng ta không thể làm gì để có thể tẩy xóa tội lỗi của chúng ta được

Muốn được tha thứ thì chúng ta phải hội đủ ba điều kiện này: 1. Chúng ta phải nhìn nhận tội lỗi của mình. 2. Chúng ta phải ăn năn thống hối và phải dốc lòng chừa cải. 3. Chúng ta phải đền bù cách cân xứng cho mọi thiệt hại, mất mát gây ra bởi tội mà chúng ta phạm ngay khi còn ở đời này hoặc đời sau trong lửa luyện tội. Xin xem TGBH 7, và 11. Còn muốn tẩy xóa tội của mình thì như tôi vừa chia xẻ ở trên, tự chúng ta, chúng ta không thể làm gì để có thể tẩy xóa tội lỗi của chúng ta được. Bởi vì muốn tẩy xóa tội lỗi của mình thì:

1. Một là chúng ta phải có sự đền bù giống y như sự mất mát hay sự thiệt hại mà chúng ta gây ra. Tức là, SXH 21:23- 25, (23) “..., mạng đền mạng, (24) mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân, (25) phỏng đền phỏng, thương tích đền thương tích, roi đòn đền roi đòn.” Nhưng đền bù cách này chỉ có thể áp dụng cho những thiệt hại vật chất mà thôi; còn những thiệt hại thể lý khác như sự đau đớn cũng như những thiệt hại luân lý, và những thiệt hại liên hệ khác thì chúng ta không thể đong lường được. Mà đã không đong lường được thì sự đền bù cũng không thể giống y như sự thiệt hại được. Vậy thì tẩy xóa tôi lỗi của mình bằng cách này coi như không ai làm được rồi!
2. Hai là khi sự đền bù không thể giống y như sự mất mát hay sự thiệt hại mà tội lỗi của chúng ta gây ra thì chúng ta có thể dâng một của lễ để thay cho sự đến bù mà chúng ta phải có với điều kiện là người được đền bù đồng ý và chấp nhận của lễ mà tội nhân dâng để đền bù. Như vậy, trong hai cách tẩy xóa tội lỗi này, chắc bạn thấy chỉ có cách thứ hai là có thể thực hiện được, đúng không? Vâng, đúng như vậy. Thế nhưng..., vì chúng ta là hình ảnh Thiên Chúa, vì chúng ta là tạo vật của Thiên Chúa, vì chúng ta là đền thờ Chúa Thánh Thần, và vì chúng ta là chi thể Chúa Kitô nên khi phạm tội, thì ngoài phạm đến chính mình, phạm đến tha nhân, chúng ta còn phạm đến Thiên Chúa nữa. Mà đã phạm đến Thiên Chúa thì chúng ta không thể có được sự đền bù nào giống y như sự xúc phạm mà tội lỗi của chúng ta gây ra cho Người được. Còn nếu chúng ta muốn dâng một của lễ đền bù thì, ngoại trừ Mẹ Maria, chúng ta cũng không ai có thể có được bất cứ một của lễ nào đáng được Chúa Cha chấp nhận. Thành ra khi đã phạm tội thì chúng ta không thể làm gì để có thể tẩy xóa tội lỗi của mình.

Nhưng chúng ta thì không ai tẩy xóa được tội lỗi của mình chứ còn đối với Thiên Chúa thì sự gì cũng có thể. Vậy Thiên Chúa tẩy xóa tội lỗi của chúng ta bằng cách nào? Thưa Người tẩy xóa tội lỗi chúng ta theo cách thứ hai, tức là nếu chúng ta có một của lễ nào dâng lên Người mà Người chấp nhận thì Người sẽ tẩy xóa tội lỗi của chúng ta. Nhưng Người biết chúng ta không có của lễ nào đáng được Người chấp nhận nên Người mới cho chúng ta của lễ để chúng ta dâng lên Người mà đền bù cho tội lỗi của chúng ta cách cân xứng. Của lễ Người cho là của lễ mà mỗi khi chúng ta dâng thì chẳng những là Người không bao giờ từ chối mà Người lại không thể từ chối được. Của lễ ấy chính là Chúa Giêsu. Xin xem TGBH 13. Khi nhận của lễ này, Thiên Chúa sẽ xóa bỏ mọi tội lỗi của chúng ta, và như thế là chúng ta không phải đền gì cho Người nữa. Ðây là điều mà chính Thánh Gioan Tẩy Giả đã công bố, Gioan 1:29, “Ðây Chiên Thiên Chúa, đây Ðấng xóa tội trần gian.”, và trong Thánh Lễ, mỗi khi nâng mình và máu Chúa Giêsu lên thì linh mục cũng công bố, “Ðây Chiên Thiên Chúa, đây Ðấng xóa tội trần gian...”

Tại sao Chúa Cha lại phải cho Chúa Giêsu cho chúng ta? Sao Người không cho chúng ta một con vật đặc biệt nào, một vị thánh, hay một thiên thần mà phải cho Chúa Giêsu? Ðây là câu hỏi mà tôi đã đặt ra với bạn trong TGBH 8, còn câu trả lời thì thưa, vì Thiên Chúa là Ðấng Tác Tạo, còn lại thì tất cả đều là thụ tạo. Ðã là thụ tạo thì không một thụ tạo nào có thể có được các thuộc tính của đấng tạo ra mình. Cho nên, lấy một thụ tạo mà đền cho Ðấng Tác Tạo thì sự đền bù này không bao giờ có thể giống y như sự mất mát hay sự thiệt hại mà tội lỗi chúng ta gây ra được, và Thiên Chúa không bao giờ chấp nhận. Thêm vào đó, tất cả mọi thụ tạo là của Thiên Chúa. Lấy bất cứ cái gì của Thiên Chúa mà đền cho Thiên Chúa thì có đền bù gì đâu? Vậy, muốn đền bù cho Thiên Chúa cách cân xứng thì phải lấy Thiên Chúa mà đền cho Thiên Chúa. Chúa Cha ban Chúa Giêsu cho chúng ta là vì vậy.

Chúa Cha đã ban Chúa Giêsu cho chúng ta bằng cách nào? Thưa vì không một người tội lỗi nào xứng đáng đưa tay đón nhận Chúa Giêsu từ tay Chúa Cha nên Người mới trao Chúa Giêsu cho chúng ta qua Ðức Maria. Ai muốn đón nhận Chúa Giêsu làm của lễ dâng lên Chúa Cha thì người ấy chỉ có thể đón nhận Chúa Giêsu qua Ðức Maria mà thôi. Chính vì vậy mà sự có mặt của Ðức Maria trong chương trình cứu chuộc chúng ta của Thiên Chúa là sự có mặt không thể thiếu được. Nói cách khác, Chúa Giêsu không thể cứu chuộc chúng ta mà không có Ðức Maria. Vì thế Ðức Maria phải là Ðấng Ðồng Công Cứu Chuộc. Nhưng dù Ðức Maria đã đồng công với Chúa Giêsu, sự đồng công của Bà không hề, mà cũng không thể làm giảm giá trị bất cứ một việc làm nào của Chúa Giêsu, và nhất là không thể làm giảm đi chút nào giá trị cuộc tử nạn mà Chúa Giêsu đã chịu. Vì thế, tuy Ðức Maria là Ðấng Ðồng Công Cứu Chuộc, Chúa Giêsu vẫn là của lễ hy tế hoàn toàn đầy đủ và vẹn toàn. Ðức Maria thật là Ðấng Ðồng Công Cứu Chuộc. Không thể sai được!

Nhưng vai trò của Ðức Maria trong công cuộc cứu chuộc chúng ta của Thiên Chúa không phải là Bà chỉ có đón nhận Chúa Giêsu từ Chúa Cha rồi đem Chúa Giêsu mà ban phát cho những ai muốn đón nhận Người. Không! Không phải chỉ có thế! Bởi vì khi Chúa Cha ban Chúa Giêsu cho chúng ta là Người ban cho chúng ta một của lễ để chúng ta dâng lên Người mà đền thay cho tội lỗi của chúng ta; vì thế chúng ta phải có người dâng của lễ. Vậy ai trong chúng ta là người xứng đáng cho công việc này? Thưa không một ai trong những người tội lỗi như chúng ta là xứng đáng. Vì chúng ta là những người tội lỗi, mà đã có tội, dù là một tội rất nhỏ nhoi thì chúng ta cũng không ai có thể vào nước Chúa được, đừng nói chi tới chuyện ra trước nhan thánh Chúa mà dâng của lễ. Thế có phải Chúa Giêsu là người dâng của lễ lên Chúa Cha không? Thưa, trong bữa tiệc ly, khi Chúa Giêsu dâng chính Người lên cho Chúa Cha thì đó là lúc Người tự hiến mình làm của lễ chứ không phải là Người dâng của lễ. Tự hiến mình làm của lễ và dâng của lễ là hai việc làm hoàn toàn khác nhau. Dâng của lễ là bưng vác một của lễ nào rồi đem dâng của lễ đó lên cho một người hay một đấng nào đó, vì vậy, hành động dâng của lễ đòi phải có của lễ và người dâng của lễ. Còn tự hiến mình làm của lễ nghĩa là hoàn toàn trao phó chính mình cho một người nào để người đó xử dụng mình như một của lễ, vì thế, khi hiến mình thì hành động tự hiến tự nó là đầy đủ; vì thế mà khi tự hiến thì của lễ và người dâng của lễ là một. Tại sao Chúa Giêsu lại tự hiến mình làm của lễ? Ðể hiểu được lý do này, chúng ta phải trở lại của lễ mà Tổ Phụ Abraham dâng lên Thiên Chúa. Ông Abraham đã dâng gì? Thưa ông dâng con mình là Isaac. Thiên Chúa có nhận của lễ ông dâng không? Thưa không! Vì nếu Thiên Chúa nhận thì Người đã để cho Ông Abraham giết chết Isaac rồi. Người không nhận của lễ của Abraham vì trên đường đi dâng của lễ, cậu bé Isaac hỏi cha mình, STK 22:7, “Thưa cha, lửa và củi thì có đây, nhưng con chiên cho thiêu lễ thì ở đâu?” Hỏi như vậy tức là Isaac đã không biết ý định của cha mình. Và vì không biết nên, hiển nhiên là trong việc dâng hiến này, Isaac đã không có sự lựa chọn, thiếu hiểu biết, và không có tự do. Vì thế, nếu Isaac đã bị giết thì không phải là cậu đã tự hiến thân; mà vì Isaac đã không tự hiến thân nên Thiên Chúa cũng không bao giờ nhận một của lễ như vậy. Còn Chúa Giêsu, Người biết tỏ tường chương trình cứu chuộc chúng ta của Thiên Chúa. Người biết trước là Người sẽ phải chịu khổ hình và phải chết, nhưng vì yêu thương chúng ta nên Người đã tự hiến thân mình để được trở nên của lễ đền thay cho tội lỗi chúng ta. Vì thế, khi Chúa Giêsu tự hiến mình làm của lễ thì chúng ta mới có của lễ chứ chưa có người dâng của lễ; chưa có người mang vác, bưng Chúa Giêsu mà dâng lên cho Chúa Cha. Vậy thì ai là người xứng đáng cho công việc này? Thưa người xứng đáng dâng của lễ, xứng đáng mang, vác, bưng Chúa Giêsu mà dâng lên Chúa Cha chính là Ðức Maria Trinh Khiết Vẹn Toàn. Là một thụ tạo như chúng ta, Ðức Maria là người duy nhất được đặc ân vô nhiễm, là đấng không hề mắc tội tổ tông, là đấng trọn đời đồng trinh, là thụ tạo duy nhất tuyệt đối tuyệt hảo và vẹn toàn, là Mẹ Thiên Chúa. Một thụ tạo như Ðức Maria mới được phép bước ra, đứng trước nhan thánh Chúa mà dâng của lễ. Và vì chỉ có Ðức Maria là người được phép đứng trước nhan thánh Chúa mà dâng của lễ nên Bà không thể thiếu được trong chương trình cứu chuộc chúng ta của Thiên Chúa. Bà đồng công với Chúa Giêsu để cứu chuộc chúng ta là vì vậy. Khi dâng của lễ, Bà cũng không hề, mà cũng không thể làm giảm giá trị của lễ mà Bà dâng là Chúa Giêsu được. Và như thế, một lần nữa, tuy Ðức Maria là Ðấng Ðồng Công Cứu Chuộc, Chúa Giêsu vẫn là của lễ hy tế hoàn toàn đầy đủ và vẹn toàn. Ðức Maria quả là Ðấng Ðồng Công Cứu Chuộc! Thật sự là Ðấng Ðồng Công Cứu Chuộc!

Bạn thân mến, bây giờ chúng ta đã có của lễ để đền thay cho tội lỗi của chúng ta. Chúng ta cũng có người thay mặt chúng ta mà dâng của lễ lên Chúa Cha. Nhưng bạn có biết không? Dù Thiên Chúa là Ðấng Thánh, là Ðấng Toàn Năng. Trước mặt Người, toàn thể triều thần thiên quốc quỳ lạy và không ngừng tung hô, Thánh! Thánh! Thánh! Xung quanh Người, 12 đạo binh các thiên thần đêm ngày chầu chực. Vậy mà khi trao Chúa Giêsu cho chúng ta, nếu chúng ta không đón nhận thì Thiên Chúa cũng phải chịu vì Người đã ban cho chúng ta tự do. Và vì tôn trọng quyền tự do của chúng ta, Chúa Cha chỉ đặt Chúa Giêsu trong một cái hòm, hòm bia Thiên Chúa; ai muốn lãnh nhận Chúa Giêsu thì cứ đến đó mà lãnh. Thật là dễ dàng lại còn miễn phí nữa!

Thiên Chúa Cha đặt hòm bia Thiên Chúa ở đâu? Làm sao để chúng ta có thể nhận ra hòm bia này? Trong Cựu Ước, Thiên Chúa đã chỉ ban lời của Người cho con cháu nhà Jacob; Người đặt lời này trong một chiếc hòm, hòm bia Thiên Chúa bằng gỗ quý dát vàng, và trao chiếc hòm này cho dân riêng của Người là Dân Do Thái. Bước sang Tân Ước, không phải Thiên Chúa chỉ ban cho chúng ta lời của Người mà Thiên Chúa lại ban cho chúng ta chính Ngôi Lời là Chúa Giêsu, và Chúa Cha đã đặt Ngôi Lời trong cung lòng Trinh Nữ Maria, là hòm bia Thiên Chúa mới. Thiên Chúa thật khôn ngoan và chu đáo biết bao khi, từ thời Cựu Ước, Người đã cho chúng ta thấy Ðức Maria qua hình ảnh một cái hòm. Như thế là để chúng ta thấy được, nếu chúng ta muốn đón nhận Chúa Giêsu làm của lễ dâng lên Chúa Cha thì chúng ta phải mở cửa cái hòm này, và nhất là để chúng ta thấy được, nếu chúng ta đón nhận Chúa Giêsu từ chiếc hòm này thì chúng ta không thể sai lầm, không bị Lucifer lường gạt. Vậy nếu bạn lãnh nhận hay có ai trao Chúa Giêsu cho bạn ở một nơi nào khác bên ngoài cái hòm này thì bạn biết ngay đó không phải là Chúa Giêsu thật. Và thưa bạn, một lần nữa, cái hòm này chính là Ðức Maria Trinh Khiết Vẹn Toàn. Trong Cựu Ước, Thiên Chúa đã trao hòm bia Thiên Chúa cho dân riêng của Người là dân Do Thái. Bước vào Tân Ước, Thiên Chúa cũng làm như vậy, Người cũng trao hòm bia Thiên Chúa mới cho dân riêng của Người, cho giáo hội mà Người thành lập, là Giáo Hội Công Giáo.

Ðến đây chắc có bạn sẽ hỏi, nếu chỉ có Ðức Maria là người xứng đáng được phép đứng trước nhan thánh Chúa Cha mà dâng của lễ thì, trong Thánh Lễ, khi chúng ta dâng của lễ là chúng ta dâng của lễ lên cho ai? Thưa chúng ta dâng của lễ của chúng ta lên cho Chúa Giêsu. Chúng ta phải dâng của lễ của chúng ta lên Chúa Giêsu để của lễ của chúng ta và của lễ của Chúa Giêsu, là chính Chúa Giêsu, trở nên một. Rồi sau đó, cũng trong Thánh Lễ, khi Chúa Giêsu tự hiến mình thì của lễ của chúng ta được dâng lên Chúa Cha vì Chúa Giêsu, với Chúa Giêsu, và trong Chúa Giêsu. Của lễ này mới là của lễ được Chúa Cha chấp nhận; khi chấp nhận của lễ này thì Chúa Cha tẩy xóa mọi tội lỗi của chúng ta, những ai tham dự Thánh Lễ cách trọn hảo. Khi tội lỗi chúng ta được tẩy xóa thì chúng ta không còn phải đền bù gì cho Thiên Chúa nữa. Bạn có thấy Thánh Lễ cao trọng biết là dường nào không?

Câu hỏi sau cùng liên quan đến đề tài này là, Ðức Maria dâng Chúa Giêsu lên Chúa Cha khi nào? Thưa, Ðức Maria dâng Chúa Giêsu lên Chúa Cha khi Bà dâng Chúa Giêsu trong đền thánh, Luca 2:22, nhưng không kết thúc ở đây. Vì sự hiến dâng Isaac của Ông Abraham là một lễ tế bắt đầu bằng sự vâng phục Thiên Chúa của ông, và không hoàn thành cho đến khi ông toan sát tế con mình là Isaac. Sự hiến dâng Chúa Giêsu lên Chúa Cha của Ðức Maria là một hy tế cũng bắt đầu bằng sự vâng theo thánh ý Chúa của Bà và không hoàn thành cho đến khi Chúa Cha chấp nhận của lễ của Bà là cái chết của Chúa Giêsu, chết trên cây Thánh Giá. Vì thế, của lễ mà Ðức Maria dâng lên Chúa Cha không phải là Chúa Giêsu lành lặn, không mang thương tích mà là Chúa Giêsu đầy thương tích, Chúa Giêsu chịu khổ hình, chịu đổ hết máu mình ra, và chịu chết. Như vậy, trong công trình cứu chuộc chúng ta của Thiên Chúa, Chúa Giêsu là Ðấng thực thi công cuộc ơn cứu chuộc bằng cách tự hiến mình chịu nạn, và chịu chết để trở thành của lễ đền bù cho tội lỗi của chúng ta, nhưng Ðức Maria lại là người dâng công cuộc ơn cứu chuộc này lên Chúa Cha. Trong một vai trò như vậy, làm sao Ðức Maria lại không là Ðấng Ðồng Công Cứu Chuộc cho được?

Ðiểm chót để chúng ta suy gẫm: Tại sao Chúa muốn Ông Abraham dâng con của ông? Thưa vì dâng con của mình mới là dâng. Dâng con người khác thì ai mà không dâng được? Vậy nếu Ðức Maria đã dâng con người khác thì dù đứa con này có tự hiến, nhất định là Thiên Chúa không nhận của lễ Bà dâng. Nhưng Ðức Maria đã dâng con của chính mình, đứa con duy nhất, đứa con tự hiến. Vì thế, Ðức Maria chẳng những thật là Ðấng Ðồng Công Cứu Chuộc; Bà còn thật sự là mẹ Chúa Giêsu, Mẹ Thiên Chúa nữa. Xin Chúa chúc phúc và dẫn đưa bạn về đường ngay nẻo chính.

Thân ái kính chào trong Chúa và Mẹ Maria,

Giuse Phạm Văn Tuyến

yellow rose

Ngày lễ sinh nhật Mẹ Maria hôm nay, Giáo Hội cho chúng ta đọc lại gia phả của Chúa Giêsu. Ta thấy, trong suốt chiều dài lịch sử thấy Thiên Chúa đã tuyển chọn gia tộc cho Người cách đặc biệt.

Hình ảnh bốn phụ nữ được Kinh Thánh nói đến như là một tiên báo cách kín đáo về Đức Kitô, Đấng sẽ đến để cứu độ những người tội lỗi, và đón nhận mọi dân mọi nước vào vương quốc của Người. Việc tuyển chọn những nhân vật này không phải là điều đáng tự hào vì lý lịch của họ. Nhưng tiêu chuẩn của Thiên Chúa khác với con người. Người chọn sự yếu kém để nói lên lượng từ bi của Người.

Đây là "gia phả của đức tin và ân sủng". Vì cho dẫu gia phả này được đan dệt bằng biết bao tội nhân và những kẻ gian ác, nhưng lịch sử ấy lại là lịch sử của tình thương và lòng thương xót Chúa, được chính Thiên Chúa can thiệp đúng lúc. Thiên Chúa đã viết lịch sử ấy bằng những nét đặc biệt, khác thường. Cái đặc biệt nhất vẫn là Thiên Chúa đã không bỏ rơi một nhân loại phản bội lại Ngài, không làm ngơ trước sự đau khổ và tội lỗi của con người. Thiên Chúa đã hành xử thật tốt đẹp với con người, đối với từng người. Chính vì một lịch sử, một thế giới tội lỗi mà Mẹ Maria đã sinh ra để cưu mang Chúa Giêsu Đấng cứu độ chúng ta

Mẹ Maria đã làm loé lên niềm hy vọng cho một trần gian đang lầm lỗi. Mẹ đã điểm tô cho một lịch sử đã bị ông bà nguyên tổ làm lu mờ vì tội phản nghịch cùng Thiên Chúa. Mẹ Maria đã làm cho lịch sử hồi sinh khi ông bà nguyên tổ làm hoen ố vì tội lỗi. Nhân loại đáng lẽ bị đắm chìm trong sự chết, nhưng Mẹ đã làm cho có sự sống viên mãn.

Hôm nay là lễ sinh nhật Đức Maria, Mẹ Đức Giêsu và là Mẹ chúng ta, chúng ta không thể không vui, và cùng nhau chúc mừng tuổi Mẹ. Ngày này phải là ngày vui chung của toàn thế giới, chứ không phải riêng cho một dân tộc hay một nhóm người nào. Bởi ngày sinh của Mẹ có liên quan trực tiếp đến biến cố Ngôi Lời Nhập Thể. Ngày Mẹ chào đời đánh dấu sự nối kết giữa Tân ước và Cựu ước, chấm dứt thời kỳ chờ đợi và những lời hứa, khai mở một thời kỳ mới, thời kỳ ân sủng và ơn cứu độ trong Đức Kitô. Mẹ thật xứng : "Đức Mẹ làm cho chúng con vui mừng".

Maria ! Mẹ Ngôi Hai Con Chúa
Chúc tụng Mẹ! Mừng Sinh nhật hôm nay
Chúa thương Mẹ ban ơn phúc dư đầy
Hình ảnh Mẹ, ngàn đời con ca tụng.

Quả thật, ngày sinh nhật của Mẹ đã khai mở lời hứa của Thiên Chúa bước đầu thành sự, đồng thời, Mẹ là Nữ Tử Sion, là hy vọng của nhân loại. Mẹ ra đời để làm Mẹ Đấng Cứu Thế. Có cuộc sinh nhật của Mẹ, mới có sự ra đời của Đức Giêsu, có Đức Giêsu mới có Đấng cứu độ chúng ta. Như vậy, ngày sinh nhật của Mẹ đã được đặt vào Mầu Nhiệm Nhập Thể, cứu độ. Mẹ như Sao mai dẫn lối đưa đường, Mẹ chính là hừng đông, là ánh bình minh báo trước Mặt trời công chính là Đức Kitô.

Vì thế trong ngày Đức Maria chào đời Giáo Hội đã kêu lên : "Ôi lạy Mẹ! Ngày sinh của Mẹ đã đem lại cho thế giới sứ điệp vui mừng và hy vọng. Vì Đức Kitô Chúa chúng con là Mặt trời soi đường nay nẻo chính đã từ cung lòng Mẹ sinh ra, Ngài là Đấng huỷ bỏ lời chúc dữ, đem lại muôn phúc lành, Đấng tiêu diệt thần chết và ban phúc trường sinh".

Thánh Gioan Đamatsô đã dâng lời ca tụng : "Hết thảy mọi người hãy đến, chúng ta hân hoan mừng ngày sinh ra niềm vui sướng của cả thế giới ! Hôm nay đây, từ một bản tính thế trần, một thiên đàng đã thành hình dưới thế. Hôm nay đây, việc cứu rỗi đã bắt đầu cho thế giới!"

Vậy, hôm nay, mọi loài trên trời dưới đất hãy cùng nhau hoan hỷ và đồng ca, nhảy múa biểu lộ niềm vui bất cứ vật nào ở trong trần gian cũng như ở trên trần gian hãy họp nhau mừng lễ. Quả thật, hôm nay thánh điện của Đấng tạo thành muôn vật đã được xây lên, và một thọ tạo, vì một lý do mới mẻ và thích đáng, đã được chuẩn bị làm nơi cư trú mới cho Đấng Hoá Công.

Khi mừng sinh nhật nhau, chúng ta thường tặng nhau những bó hoa, những món quà. Mừng ngày sinh nhật của Mẹ hôm nay: "mãi mãi nhân loại sẽ khơng ngớt cùng Mẹ ca tụng Thiên Chúa:

Chúng con tại thế tưng bừng,
Cùng nhau ca hát vang lừng bốn phương.
Tạ ơn Thiên Chúa tình thương,
Chọn người Trinh Nữ ngát hương ngàn đời.

Chúng ta hãy quyết hái nhiều hoa xinh đẹp để dâng kính Mẹ, tỏ lòng mến yêu Mẹ bằng những kinh nguyện chân thành dâng lên Mẹ, những đóa hoa tươi kính dâng Mẹ sẽ là những tâm tình đẹp chúng ta làm vui lòng Mẹ. Nhất là chúng ta hãy tiếp tục làm những việc đạo đức thông thường dâng kính Mẹ, như : lần hạt Mân Côi, đọc kinh Truyền tin, nguyện kinh cầu, một cách phi thường. Có nghĩa là miệng đọc, lòng suy và cố gắng đem ra thực hành trong đời sống, để cuộc đời của Mẹ, vốn đã trở nên một với cuộc đời của Đức Giêsu cũng được thể thể hiện trong cuộc sống của mỗi người chúng ta.

Mừng lễ sinh nhật Đức Mẹ, chúng ta hiệp cùng Giáo Hội ca tụng, tung hô Mẹ. Với những lời chúc tốt lành nhất dâng về Mẹ cuộc sống hiện tại, quá khứ và tương lai làm món quà mừng Mẹ tuổi mới.

Mẹ sinh ra giữa muôn hoa hương ngát
Với màu sắc lộng lẫy đẹp đất trời
Mẹ rạng ngời trong hào quang vời vợi
Cùng Triều Thần con Chúc khen mừng Mẹ. Amen.

Lm Antôn Nguyễn Văn Độ